Điều 12. Thực hiện kiểm tra văn bản
1. Trong thời hạn 7 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản gửi đến để kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải cập nhật vào sổ theo dõi (theo mẫu tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quyết định này) và phân công chuyên viên, cộng tác viên kiểm tra văn bản tiến hành kiểm tra văn bản theo quy định tại Điều 3 Quy định này, người được giao nhiệm vụ kiểm tra phải lập phiếu kiểm tra (theo mẫu tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Quyết định này).
Đối với Sở Tư pháp, việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành) phải đảm bảo thực hiện theo Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 về kiểm tra, xử lý văn bản.
2. Trong quá trình kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản có quyền yêu cầu cơ quan ban hành văn bản cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến văn bản được kiểm tra hoặc giải trình các vấn đề liên quan đến nội dung văn bản. Cơ quan ban hành văn bản có trách nhiệm cung cấp các nội dung, tài liệu và giải trình các vấn đề theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản.
3. Khi phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý qua “Phiếu kiểm tra văn bản” (theo mẫu tại Phụ lục 4), đồng thời, tiến hành thiết lập hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật theo quy định tại khoản 6, Điều 9 Thông tư số 20/2011/TT- BTP.
4. Trong thời hạn 3 (ba) ngày làm việc, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp phải thông báo nội dung của văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đến cơ quan, người đã ban hành văn bản đó để tự kiểm tra. Nội dung văn bản thông báo thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 9 Thông tư số 20/2011/TT- BTP.