vanban.org

Điều 10. Tổ chức kiểm kê hiện trạng — Quyết định 32/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/09/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 04/09/2015 Thay thế: 34/2015/QĐ-UBND · 25/08/2015
Bà Rịa - Vũng Tàu Ban hành 25/07/2011 Hiệu lực 04/08/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu · 34/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 32/2011/QĐ-UBND ban hành Quy định trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu · 32/2011/QĐ-UBND
04/09/201534/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 04/08/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 32/2011/QĐ-UBND › Chương III › Mục 2 › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Tổ chức kiểm kê hiện trạng

1. Thành phần tham gia kiểm kê hiện trạng gồm có:

a) Đại diện Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường.

b) Đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, thị xã, thành phố.

c) Đại diện Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện, thị xã, thành phố.

d) Người bị thu hồi đất (hoặc người đại diện hợp pháp).

đ) Đại diện chủ dự án.

e) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã.

g) Tổ trưởng tổ dân cư nơi có đất bị thu hồi.

h) Đại diện hộ dân tham gia Hội đồng bồi thường.

2. Nội dung kiểm kê

a) Phần kiểm kê về đất đai và nhà cửa, vật kiến trúc: Kiểm kê toàn bộ diện tích đất thu hồi, từng hạng mục nhà cửa, vật kiến trúc, đánh giá kết cấu, cấp hạng nhà, kích thước, diện tích. Nhà cửa, vật kiến trúc bị giải tỏa một phần thì chỉ kiểm kê phần bị giải tỏa.

Đối với nhà và các loại công trình, vật kiến trúc mà khi tháo dỡ phần bị giải tỏa sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc của phần còn lại thì phải xem xét phần ảnh hưởng. Diện tích tính ảnh hưởng là diện tích tính từ vạch giải tỏa đến mép trụ đỡ gần nhất; việc xác định ảnh hưởng chỉ áp dụng đối với trường hợp diện tích còn lại sau khi bị giải tỏa có thể tự chống đỡ để tồn tại và sử dụng được.

b) Phần kiểm kê về tài sản khác như: đồng hồ điện, nước (Phải ghi rõ là đồng hồ chính hay phụ), giếng, điện thoại,... các hạng mục như hầm tự hoại, bể nước, nhà vệ sinh... nằm trong kết cấu nhà thì không kiểm kê, chỉ kiểm kê khi là công trình phụ độc lập nằm ngoài diện tích nhà. 

c) Phần kiểm kê về cây trồng: Thực hiện theo quy định tại Quyết định số 23/2009/QĐ-UBND ngày 08 tháng 4 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu về ban hành quy định giá hoa màu, cây trái, diêm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

d) Đối với nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh là tài sản của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, có trích khấu hao thì phải đánh giá tỷ lệ giá trị còn lại của tài sản để ghi vào biên bản kiểm kê tài sản.

đ) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm vẽ sơ đồ nhà cửa, vật kiến trúc vào biên bản kiểm kê tài sản.

3. Lập biên bản kiểm kê hiện trạng

- Biên bản kiểm kê hiện trạng là tài liệu xác lập số lượng, chất lượng tài sản gắn liền với diện tích đất thu hồi để làm cơ sở cho việc tính toán bồi thường, hỗ trợ.

- Biên bản được lập thành 02 (hai) bản có giá trị như nhau và phải có chữ ký của tất cả thành viên tham gia kiểm kê hiện trạng hoặc điểm chỉ (nếu không ký được) do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập và Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.   

4. Các trường hợp kiểm kê đặc biệt

a) Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ thì ghi trong biên bản cụm từ: “kiểm kê theo diện vắng chủ”; trường hợp người bị thu hồi đất không có tài sản gắn liền với đất thì ghi vào biên bản cụm từ “người bị thu hồi đất không có tài sản gắn liền với đất”.

b) Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ hoặc người bị thu hồi đất có mặt nhưng không ký biên bản thì phải ghi nhận rõ sự việc, lý do từ chối ký biên bản và đại diện thôn, ấp, khu phố ký xác nhận sự việc, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận (ký tên, đóng dấu).

 c) Trường hợp người bị thu hồi đất không đồng ý cho tiến hành đo đạc, kiểm kê thì áp dụng biện pháp kiểm kê bắt buộc và phải có quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc kiểm kê bắt buộc. Khi kiểm kê phải mời đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã và đại diện của khu phố, thôn, ấp nơi có đất bị thu hồi chứng kiến. Các thành viên tham gia buổi kiểm kê và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện của khu phố, thôn, ấp cùng ký vào biên bản kiểm kê, Ủy ban nhân dân cấp xã ký xác nhận (ký tên, đóng dấu).

Điều 11. Xử lý một số trường hợp cụ thể trong kiểm kê, thu hồi đất

1. Trường hợp diện tích đất ở còn lại của thửa đất (hoặc các thửa đất) sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn diện tích đủ điều kiện xây dựng theo quy định của địa phương thì áp dụng theo quy định tại khoản 1, Điều 14, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và người bị thu hồi đất yêu cầu bồi thường hết diện tích đất và tài sản gắn liền với đất của các thửa đất đó thì ghi vào biên bản kiểm kê cụm từ: “Người bị thu hồi đất yêu cầu Nhà nước thu hồi, bồi thường hết diện tích thửa đất và tài sản gắn liền với đất (diện tích, số tờ, số thửa) và không có khiếu nại về sau” và thực hiện việc kiểm kê toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất.

Chủ đầu tư phải có trách nhiệm bồi thường phần diện tích này và được quyền sử dụng theo quy định pháp luật. Đối với những dự án sử dụng ngân sách Nhà nước thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.

2. Trường hợp người bị thu hồi đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 đã chết vào thời điểm kiểm kê mà các đồng thừa kế chưa làm thủ tục thừa kế theo quy định thì việc kiểm kê được thực hiện với sự tham gia của người đại diện đồng thừa kế hoặc người đang trực tiếp quản lý đất và tài sản bị thu hồi.

3. Trường hợp người bị thu hồi đất có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 đã chuyển quyền sử dụng đất cho người khác trên thực tế nhưng chưa hoàn tất việc chuyển quyền theo quy định của pháp luật thì việc kiểm kê được tiến hành với sự tham gia của người đã nhận quyền sử dụng đất trên thực tế (Biên bản kiểm kê phải ghi rõ lý do và thời điểm chuyển dịch quyền sử dụng đất trên thực tế).

4. Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp bao gồm nhiều loại đất trên cùng một thửa đất, nhưng dự án chỉ thu hồi một phần diện tích của thửa đất đó, thì căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất thực tế để xác định loại đất của phần diện tích thu hồi. Trường hợp người bị thu hồi đất có ý kiến đề nghị cụ thể về loại đất bồi thường thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải ghi rõ ý kiến đề nghị vào biên bản kiểm kê để làm cơ sở để Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xem xét giải quyết kiến nghị của hộ dân trên cơ sở đúng quy định pháp luật.

5. Trường hợp sau khi giải tỏa một phần nhà ở, công trình… trên đất mà phần còn lại không thể sử dụng được, không thể tự chống đỡ để tồn tại thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải đo đạc, kiểm kê tính toán bồi thường toàn bộ phần diện tích còn lại của nhà ở, công trình… đó. Biên bản kiểm kê phải ghi rõ lý do thực hiện việc đo đạc, kiểm kê toàn bộ diện tích nhà ở, công trình trong trường hợp này.

Điều 12. Xác nhận các nội dung kiểm kê

Trong thời gian không quá 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường gửi đến, Ủy ban nhân dân và công an cấp xã có trách nhiệm xác nhận các nội dung sau:

1. Xác định nhà, đất trong phạm vi thu hồi của hộ gia đình, cá nhân có tranh chấp hay không có tranh chấp.

2. Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai, xây dựng lưu trữ theo quy định tại Ủy ban nhân dân cấp xã để xác định các điều kiện được bồi thường hoặc không được bồi thường theo quy định tại các Điều 7, Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ gồm : xác nhận nguồn gốc, thời điểm bắt đầu sử dụng đất theo mục đích sử dụng hiện trạng; thời điểm xây dựng nhà, công trình trên đất của hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi thu hồi đất, xác nhận đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở.

3. Trường hợp không có hồ sơ thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức họp dân  xác minh lấy ý kiến về quá trình sử dụng đất, tài sản: Họp tổ dân phố, thôn, ấp hoặc đội sản xuất nơi có đất, tài sản bị thu hồi. Họp dân phải có sự tham gia chứng kiến của Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện chính quyền cấp xã, tổ, thôn, ấp hoặc đội sản xuất và những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất, tạo lập tài sản để làm căn cứ xác nhận. Biên bản họp dân do Ủy ban nhân dân cấp xã lập phải ghi rõ thời gian, địa điểm họp, thành phần họp, nội dung họp và có xác nhận của chính quyền cấp xã (ký tên, đóng dấu).

4. Xác nhận các trường hợp giải tỏa trắng là giải toả hết nhà, hết đất. Cần ghi rõ giải toả hết nhà nhưng vẫn còn đất để dịch chuyển hoặc hết nhà, hết đất không còn chỗ để xây dựng nhà ở mới, hoặc còn đất nhưng đất đó không phù hợp qui hoạch xây dựng công trình bị giải toả.

5. Xác nhận việc tách hộ nhưng chưa hoàn thành thủ tục hoặc có nhiều hộ cùng sống chung.

6. Xác nhận hộ gia đình, cá nhân đề nghị không vào khu tái định cư tập trung, xin tái định cư tự do. Trường hợp này yêu cầu hộ gia định, cá nhân phải làm đơn cam kết không vào ở khu tái định cư tập trung.

7. Xác nhận tỉ lệ phần trăm diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên diện tích đất nông nghiệp sử dụng đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong phạm vi xã, phường, thị trấn.

8. Xác nhận nhân khẩu (do công an xã, phường, thị trấn xác nhận).