vanban.org

Điều 5. Nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất — Quyết định 32/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 17/12/2005 Thay thế: 61/2005/QĐ-UBND · 07/12/2005
Quảng Bình Ban hành 05/08/2003 Hiệu lực 05/08/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 4 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 27/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình · 27/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 61/2005/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành · 61/2005/QĐ-UBND
Quyết định số 32/2003/QĐ-UB Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất · 32/2003/QĐ-UB
05/08/2003Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 11/2003/QĐ-UB Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất · 11/2003/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 32/2003/QĐ-UB › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất

1. Việc đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy tắc trực tiếp, công khai bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc đấu giá trực tiếp bằng miệng và công bố kết quả sau khi việc bỏ phiếu hoặc trả giá kết thúc. Người đấu giá phải trực tiếp tham gia phiên đấu giá ( đối với doanh nghiệp, tổ chức là người đại diện theo pháp luật). Trường hợp uỷ quyền cho người khác tham gia đấu giá thì phải có giấy uỷ quyền hợp lệ theo quy định của pháp luật.

2. Đối với mỗi lô đất việc đấu giá chỉ được tiến hành khi có ít nhất từ 02 người trở lên tham gia đấu giá (Trường hợp đặc biệt có quy định riêng).

3. Trong một phiên đấu giá, nếu có nhiều lô đất được đưa ra đấu giá được tiến hành làn lượt từng lô một. Trường hợp đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu kính, một người tham gia đấu giá chỉ được đưa một mức giá đấu đối với mỗi lô đất. Trường hợp đấu giá trực tiếp bằng miệng, một người tham gia đấu giá có thể trả giá nhiều lần cho một số lô đất theo đúng quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 8 của Quy chế này.

Một người có thể tham gia đấu giá nhiều lô đất và không hạn chế số lô đất trúng đấu.

4. Hội đồng đấu giá chỉ xét chọn người trúng đấu trong số những phiếu đấu giá hợp lệ (đối với trường hợp đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu kín) hoặc người trả giá cao nhất (đối với trường hợp đấu giá trực tiếp bằng miệng) theo quy định sau đây:

a. Đối với đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu kín:

+ Phải sử dụng phiếu đấu giá do Hội đồng đấu giá phát hành và phải ghi đầy đủ nội dung trong phiếu đấu giá, ghi rõ họ tên người tham gia đấu giá và trùng với họ tên trong chứng minh nhân dân của người uỷ quyền và người được uỷ quyền;

+ Số tiền ghi trên phiếu đấu giá phải ghi mức giá cụ thể, rỏ ràng bằng số và bằng chử, không bị tẩy,  xoá hoặc sai lệch giữa số tiền viết bằng số và bằng chữ;

+ Có mức giá ghi trong phiếu đấu giá cao hơn hoặc bằng mức giá tối thiểu của lô đất đấu giá;

Người đấu giá quyền sử dụng đất là người có phiếu đấu giá hợp lệ đối với lô đát đó.

Trường hợp có từ 02 người đấu giá trở lên có mức giá đấu cao nhất bằng nhau đối với một lô đất thì phải tổ chức đấu giá tiếp giữa người có mức giá cao nhất bằng nhau cho đến khi xác định được người có mức giá cao nhất (sau đây gọi là đấu giá kép) và giá tối thiểu của lô đất để đấu giá kép là mức cao nhất bằng nhau của lần đấu giá liền kề trước đó. Người đấu trúng là người có phiếu đấu giá hợp lệ và có mức giá cao nhất khi đấu giá kép.

b. Đối với đấu giá trực tiếp bằng miệng:

+ Người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất nếu sau ba lần người điều hành phiên đấu giá nhắc lại giá người đó đã trả (mỗi lần cách nhau 30 giây) mà không có người nào trả giá cao hơn.

Tại cuộc đấu giá nếu người đã trả giá cao nhất rút lại giá đã trả, thì việc đấu giá được tổ chức lại ngay và bắt đầu từ giá trả cao nhất liền kề trước đó. Người rút lại giá đã trả không được tham gia trả giá. Trong trường hợp giá bán lô đất đấu giá thấp hơn giá mà người rút lại đã trả thì người rút lại phải trả khoản tiền chênh lệch cho Nhà nước, nếu lô đất bán được giá cao hơn thì người rút lại không được hưởng tiền chênh lệch đó. Nếu cuộc bán đấu giá không thành thì người rút lại giá đã trả phải chịu chi phí cho cuộc bán đấu giá đó và không được hoàn trả tiền đặt cọc (số tiền đặt cọc được sung vào ngân sách Nhà nước ).

5. Việc đấu giá lại lô đất đấu giá được tiến hành trong các trường hợp:

+ Người trúng đấu lô đất đó bỏ cuộc;

+ Kết quả đấu giá bị huỷ bỏ theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 của Quy chế này.