Điều 11. Chính sách hỗ trợ khác
1. Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển, nếu di chuyển trong tỉnh được hỗ trợ 2.000.000 đồng, di chuyển sang tỉnh khác được hỗ trợ 4.000.000 đồng cho một hộ.
2. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác, trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới (bao gồm bố trí và không bố trí tái định cư) thì được hỗ trợ tiền thuê nhà với thời gian tối đa không quá 04 tháng, với mức tối đa 500.000 đồng cho một hộ mỗi tháng (đối với các hộ ở 13 phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuột), 300.000 đồng một hộ mỗi tháng (đối với các hộ ở các xã, thị trấn còn lại), thời gian tính từ lúc thực hiện thu hồi đất.
3. Hỗ trợ ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất theo mức 150.000 đồng một nhân khẩu mỗi tháng cho các đối tượng được quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 30 Nghị định 197/CP, thu hồi đất ở, phải giải tỏa nhà và di chuyển chỗ ở (nếu là đối tượng thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước được quy định tại Điều 30 Nghị định 197/CP thì số tháng được hỗ trợ là 03 tháng, trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất mà phải giải tỏa nhà và di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ 6 tháng) kể cả được bồi thường hoặc không được bồi thường về đất.
4. Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm theo Điều 29 Nghị định 197/CP theo mức 2.000.000 đồng cho một người trong độ tuổi lao động nhưng không quá 55 tuổi đối với nam, 50 tuổi đối với nữ, số lao động được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm căn cứ theo số lao động trong độ tuổi hiện có nhưng không quá 03 người trong một hộ và chỉ được thực hiện khi nhà nước không bố trí đất tái định canh và người lao động có nhu cầu chuyển đổi nghề và tạo việc làm. Khi thu hồi đất, nếu người bị thu hồi đất có nhu cầu học chuyển đổi nghề thì phải đăng ký với tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và UBND xã, phường, thị trấn. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm đăng ký với cơ sở dạy nghề để người lao động học nghề trong thời gian sớm nhất. Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm được quản lý tập trung tại Kho bạc Nhà nước, khi người lao động đã học xong nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh thì tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi trả tiền cho người lao động căn cứ vào biên lai đóng học phí (với mức tối đa 2.000.000 đồng cho mỗi lao động).
5. Mức hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn, nếu là đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tính bằng 50% giá đất được UBND tỉnh quy định cho đất ở liền kề, nếu là đất nông nghiệp, đất khác được tính bằng giá đất cùng loại liền kề với đất công ích của xã, phường, thị trấn.
6. Trường hợp các hộ gia đình tự nguyện di dời theo đúng kế hoạch của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thông báo và tài sản là nhà cửa, vật kiến trúc bị tháo dỡ có giá trị bồi thường từ 50.000.000 đồng trở lên thì được hỗ trợ thêm 2.000.000 đồng cho một hộ.
7. Hỗ trợ cho hộ gia đình là thương binh, gia đình Liệt sỹ, gia đình có công với Cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, hộ đói nghèo đã được cấp sổ phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất: 1.500.000 đồng cho một hộ.
8. Hỗ trợ tối đa 1.000.000 đồng cho một hộ tại khu tái định cư để các hộ mua giống, vật nuôi cho vụ sản xuất nông nghiệp đầu tiên. Mức hỗ trợ cụ thể căn cứ vào số lượng giống, vật nuôi tại khu tái định cư của vụ sản xuất nông nghiệp đầu tiên và có xác nhận của UBND cấp xã nơi tổ chức sản xuất nông nghiệp.
9. Mức hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị định 197/CP. UBND tỉnh quyết định hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể theo đề nghị của Hội đồng thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tỉnh.