Điều 14. Ban Chấp hành
Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa 2 kỳ Đại Hội
Số lượng ủy viên Ban Chấp hành do Đại Hội quyết định.
Ban Chấp hành được Đại Hội bầu, hình thức bầu do Đại Hội quyết định. Danh sách các ủy viên đề cử và ứng cử phải được Đại Hội thông qua. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành là 5 năm. Các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội không tham gia Ban Chấp hành liên tục quá 3 nhiệm kỳ (15 năm).
Ban Chấp hành hoạt động theo Quy chế của Ban Chấp hành.
Ban Chấp hành họp ít nhất 1 lần trong một năm theo triệu tập của Chủ tịch Ban Chấp hành. Các phiên họp Ban Chấp hành được coi là hợp lệ khi có mặt 2/3 tổng số ủy viên Ban Chấp hành.
Các Quyết định và nghị quyết của Ban Chấp hành được thông qua bằng biểu quyết và chỉ có hiệu lực khi có trên 50% tổng số ủy viên Ban Chấp hành dự họp tán thành. Nếu số phiếu thuận và không thuận là ngang nhau, bên nào có ý kiến của Chủ tịch Ban Chấp hành sẽ được chấp thuận.
Ban Chấp hành có nhiệm vụ và quyền hạn:
· Quyết định các biện pháp thực hiện nghị quyết của Đại Hội;
· Quyết định kế hoạch chương trình công tác hàng năm hoặc giữa các kỳ họp của Ban Chấp hành;
· Thông qua kế hoạch và quyết toán tài chính nhiệm kỳ và hàng năm của Hội;
· Giải quyết các vấn đề phát sinh giữa các kỳ Đại Hội;
· Chuẩn bị nội dung, chương trình nghị sự và các tài liệu trình Đại Hội (kể cả Đại Hội bất thường) và Hội nghị toàn thể hàng năm:
· Quy định cụ thể các nguyên tắc, chế độ quản lý, quy chế sử dụng tài chính của Hội, quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Hội;
· Bầu cử và bãi miễn các chức danh lãnh đạo Hội: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc điều hành, các ủy viên Thường vụ, Ban Chấp hành Hội.