Điều 8. Vị trí cắm mốc
1. Mốc được chôn cố định xuống đất trên đường ranh giới đảm bảo bền vững chắc chắn, phần nổi trên mặt đất cao 50 cm, mặt ghi số hiệu mốc và tên khu rừng quay ra phía ngoài.
2 Khi có sự chung nhau đường ranh giới giữa loại rừng đặc dụng, phòng hộ với rừng sản xuất thì cắm mốc cấp 1 nhưng trên 2 mặt của mốc ghi nội dung theo đúng quy định, phù hợp với từng loại rừng.
3. Khi đường ranh giới phân chia khu rừng là các dạng địa hình dễ nhận biết như đường sá, sông suối hoặc các dông núi ở nơi không có hoặc ít người qua lại thì chỉ cần mô tả rõ đặc điểm chi tiết địa hình trong hồ sơ ranh giới khu rừng mà không cần cắm mốc.
4. Tại các vị trí đổi hướng của đường ranh giới, nơi không có địa hình đặc trưng, khó phân định ranh giới thì nhất thiết phải cắm mốc.
Quy định về khoảng cách giữa các mốc như sau:
1. Đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ:
- Trên đường ranh giới bao quanh khu rừng đóng mốc cấp 1 với cự ly không quá 2.000 mét.
- Đối với những nơi giáp khu dân cư có nhiều nguy cơ bị xâm phạm, nơi ranh giới khó nhận biết do có quá ít các chi tiết địa hình, địa vật như vùng đồi bát úp hoặc đất bằng ven biển, cự ly các mốc không quá 1.000 mét.
Bảng cắm trên đường ranh giới khu rừng đặc dụng, khu rừng phòng hộ ở những vùng giáp ranh, nơi tiếp giáp khu dân cư, nơi có đường giao thông qua lại hoặc nơi có rừng đang bị chặt phá, lấn chiếm mạnh.
2. Đối với các khu rừng tự nhiên: Cắm mốc cấp 2 với cự ly không quá 2.000 mét.
- Khi khu rừng có diện tích dưới 10 ha chỉ cắm bảng ở nơi có đường giao thông qua lại.
3. Trường hợp xác định đường ranh giới các khu rừng trùng với đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên như sông suối, dông núi v.v... thì được phép sử dụng đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên đó nhưng phải mô tả rõ việc sử dụng đường địa giới hành chính hoặc các ranh giới tự nhiên đó trong hồ sơ mốc giới của khu rừng.