Điều 6. Các quy định đối với hoạt động nuôi tôm.
6.1.Thời vụ nuôi.
Việc thả nuôi phải bảo đảm tuân theo khung lịch thời vụ và hướng dẫn hàng năm của Sở Thuỷ sản.
6.2. Tôm giống.
Việc sản xuất, ương, kinh doanh, vận chuyển tôm giống phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành.
Chất lượng tôm giống phải bảo đảm quy định theo tiêu chuẩn Ngành. Tôm giống trước khi đưa vào nuôi phải được kiểm tra dịch bệnh qua máy PCR và có xác nhận của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
6.3. Mật độ tôm giống thả:
- Nuôi vùng hạ triều: Dưới 10 con P15/m2 (tôm sú)
- Nuôi vùng cao triều: Từ 10 đến 20 con P15 /m2 đối với nuôi bán thâm canh và 25 đến 40 con P15/m2 đối với nuôi thâm canh (tôm sú).
- Trường hợp nuôi các loại tôm khác như: tôm rảo, tôm rằn,..thì mật độ tôm giống thả nuôi phải theo sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản.
6.4. Thức ăn.
Khuyến khích sử dụng thức ăn công nghiệp có chất lượng đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN 102:2004 (thức ăn hỗn hợp dạng viên cho tôm sú). Không sử dụng thức ăn tươi, sống.
6.5. Thuốc và hoá chất sử dụng trong nuôi tôm.
Việc kinh doanh thuốc, hoá chất phải đảm bảo đúng theo quy định của Bộ Thuỷ sản tại Quyết định số 03/2002/QĐ-BTS ngày 23/01/2002 về việc ban hành Quy chế Quản lý thuốc thú y thuỷ sản.
Các loại thuốc, hoá chất đưa vào sử dụng và kinh doanh trong nuôi tôm không nằm trong danh mục cấm của Bộ Thuỷ sản tại Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/02/2005 và theo danh mục được bổ sung hàng năm của Bộ Thuỷ sản.
Hạn chế việc sử dụng thuốc kháng sinh, khi cần thiết phải sử dụng thuốc kháng sinh phải theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản và phải ngừng sử dụng thuốc kháng sinh 4 tuần trước khi thu hoạch tôm thương phẩm.
Khuyến khích sử dụng các chế phẩm sinh học hoặc các chất xử lý, cải thiện môi trường trong quá trình nuôi.