vanban.org

Điều 21. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất: Thực hiện theo Điều 89 Luật Đất đai, Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP. — Quyết định 3000/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/10/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/08/2022 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 40/2024/QĐ-UBND · 04/10/2024 Sửa đổi, bổ sung: 09/2024/QĐ-UBND · 19/02/2024
Quảng Ninh Ban hành 02/08/2017 Hiệu lực 15/08/2017 Hết hiệu lực toàn bộ 22 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 40/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh · 40/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 3000/2017/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh · 3000/2017/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 3000/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất: Thực hiện theo Điều 89 Luật Đất đai, Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài: Thực hiện theo Khoản 1 Điều 89 Luật Đất đai.

2. Mức bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được xác định như sau:

Mức bồi thường
đối với nhà,
công trình
=Giá trị hiện có
của nhà, công
trình
+Khoản tiền tính bằng tỷ lệ
phần trăm theo giá trị hiện có
của nhà, công trình

Trong đó:

a) Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

b) Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình bằng 50% giá trị hiện có của nhà, công trình, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

3. Xác định giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại.

Căn cứ hiện trạng của nhà, công trình bị thiệt hại và việc quản lý, duy tu bảo dưỡng; đầu tư cải tạo, nâng cấp tài sản, Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức xác định giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại theo các phương pháp sau:

a) Phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật.

Tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc được xác định căn cứ vào tỷ lệ chất lượng còn lại của các kết cấu chính và tỷ lệ giá trị của các kết cấu chính đó so với tổng giá trị của nhà hoặc vật kiến trúc;

Việc xác định tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc theo phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật thực hiện theo Điểm a, Mục 1 Phần II Thông tư liên tịch số 13/LB-TT ngày 18/8/1994 của Liên Bộ Tài chính - Xây dựng - Ban vật giá Chính phủ và Điểm b Mục 3 Công văn số 1326/BXD-QLN ngày 8/8/2011 của Bộ Xây dựng.

b) Phương pháp thống kê kinh nghiệm.

Tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc được xác định căn cứ vào thực trạng của nhà, vật kiến trúc; niên hạn sử dụng và thời gian đã sử dụng của nhà, vật kiến trúc đó. Ngoài ra, việc đánh giá tỷ lệ chất lượng còn lại còn được căn cứ vào việc cải tạo, nâng cấp để xác định tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc cho phù hợp thực tế;

Khung thời gian sử dụng của nhà, vật kiến trúc (niên hạn sử dụng) áp dụng mức tối đa trong Khung thời gian trích khấu hao các loại tài sản cố định quy định tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định;

Việc xác định tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc theo phương pháp thống kê kinh nghiệm thực hiện theo Điểm b, Mục 1 Phần II Thông tư liên tịch số 13/LB-TT ngày 18/8/1994 của Liên Bộ Tài chính - Xây dựng - Ban vật giá Chính phủ và Điểm a Mục 3 Công văn số 1326/BXD-QLN ngày 8/8/2011 của Bộ Xây dựng;

c) Trường hợp tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, vật kiến trúc xác định theo 2 phương pháp quy định tại Điểm a và b Khoản này có chênh lệch thì lấy theo phương pháp có tỷ lệ chất lượng còn lại cao hơn.

4. Đối với nhà, công trình khác bị phá dỡ một phần quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

a) Nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được hoặc không đảm bảo khả năng chịu lực thì được bồi thường toàn bộ nhà, công trình;

b) Nhà bị phá dỡ một phần mà phần còn lại chỉ còn cầu thang, nhà vệ sinh thì được bồi thường toàn bộ diện tích nhà;

c) Nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại vẫn sử dụng được, ngoài việc được bồi thường tính đến chỉ giới thu hồi đất, còn được bồi thường bổ sung và bồi thường hoàn trả mặt đứng nhà như sau:

c1) Đối với nhà khung bê tông cốt thép hoặc kết cấu khung thép thì diện tích sàn xây dựng được bồi thường bổ sung tính từ chỉ giới thu hồi đất đến khung kết cấu chịu lực gần nhất;

c2) Đối với nhà kết cấu xây gạch chịu lực bị cắt xén một phần, không ảnh hưởng tới an toàn của căn nhà thì diện tích sàn xây dựng được bồi thường bổ sung bằng chiều rộng mặt đứng nhà từ chỉ giới thu hồi đất nhân với chiều sâu bằng 1m và nhân với số tầng nhà bị cắt xén;

c3) Bồi thường hoàn trả mặt đứng nhà được xác định theo công thức sau:

Gmđ = Bmđ x Gbd x Smđ x T, trong đó:

Gmđ: Giá trị phần mặt đứng được bồi thường hoàn trả,

Bmđ: Chiều rộng mặt đứng là chiều rộng tại vị trí cắt xén,

Gbd: Đơn giá bồi thường Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tính trên một mét vuông sàn xây dựng.

Smđ: Chiều sâu được quy định bằng 1m,

T: Số lượng tầng bị cắt xén.

5. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành theo Khoản 4 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì việc bồi thường thực hiện theo Khoản 1, 2 và 3 Điều này và Khoản 2 Điều 20 Quy định này.