Điều 172 và khoản 3 Điều 189 của Luật Đất đai, xác định giá đất để làm giá khởi
điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho
thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà thửa đất hoặc khu đất
của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 20 tỷ đồng; xác định
giá đất để làm căn cứ tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất
hàng năm mà phải xác định lại đơn giá thuê đất để điều chỉnh cho chu kỳ tiếp theo;
xác định giá đất để làm cơ sở xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất
khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm.
2. Các trường hợp quy định tại: Điểm b khoản 1, điểm b khoản 3, điểm a
khoản 4 Điều 4, khoản 2 Điều 10 Nghị định số 35/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017
của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
trong khu kinh tế, khu công nghệ cao; điểm c khoản 3 Điều 3 Nghị định số
45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất;
khoản 5 Điều 4 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về thu tiền
thuê đất, thuê mặt nước.3. Trường hợp tại điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2017/NĐ-CP, cụ
thể: “Trường hợp diện tích tính thu tiền thuê đất của thửa đất hoặc khu đất đấu giá
có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng, giá khởi điểm để
đấu giá quyền sử dụng đất là giá đất cụ thể do Ban quản lý Khu kinh tế xác định
theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất và phê duyệt sau khi có ý kiến thống
nhất của Sở Tài chính. Sở Tài chính có ý kiến về giá khởi điểm trong thời hạn 05
ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Ban quản lý Khu kinh tế. Giá đất
để xác định số tiền thuê đất phải nộp một lần cho cả thời gian thuê là giá đất trúng
đấu giá”.
4. Các trường hợp khác phải áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định
của pháp luật.