Điều 4. Kinh phí bảo trì công trình
1. Đối với các công sở mà chủ quản lý sử dụng là các cơ quan hành chính Nhà nước: Kinh phí thực hiện bảo trì được lấy từ kinh phí hoạt động thường xuyên trong dự toán ngân sách Nhà nước cấp hàng năm, trừ trường hợp sửa chữa lớn phải lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật hay dự án đầu tư.
2. Đối với các công sở mà chủ quản lý sử dụng là các đơn vị sự nghiệp công lập: Kinh phí thực hiện bảo trì một phần được lấy từ kinh phí hoạt động thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp hàng năm và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị.
3. Đối với nhà ở các chủ sở hữu có trách nhiệm tự bố trí kinh phí bảo trì phần sở hữu riêng và thỏa thuận đóng góp kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung theo quy định tại Điều 48 và Điều 51 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP.
4. Các công trình dân dụng và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng khác: Chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng phải tự lo kinh phí thực hiện bảo trì.
5. Các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị:
a) Công trình do Nhà nước đầu tư hoặc do tổ chức, cá nhân đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý, sử dụng thì kinh phí thực hiện bảo trì được lấy từ kinh phí ngân sách Nhà nước cấp hàng năm và các nguồn vốn hỗ trợ hợp pháp khác.
b) Công trình do tổ chức, cá nhân đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị để kinh doanh khai thác thì người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm bố trí kinh phí thực hiện bảo trì công trình trong thời gian quản lý khai thác.
c) Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp kinh phí thực hiện bảo trì công trình từ nguồn kinh phí cho thuê hạ tầng.