vanban.org

Điều 7. Quản lý thu, nộp tiền phí, lệ phí — Quyết định 30/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2007 Thay thế: 48/2006/QĐ-UBND · 29/12/2006
Hậu Giang Ban hành 05/09/2006 Hiệu lực 15/09/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 7 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND Về việc quy định các khoản thu phí, lệ phí và tỷ lệ phần trăm (%) trích lại cho đơn vị thu trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 02/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 37/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 37/2008/QĐ-UBND
Quyết định số 48/2006/QĐ-UBND V/v ban hành Quy định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí đối với xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 48/2006/QĐ-UBND
Quyết định số 30/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí đối với xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 30/2006/QĐ-UBND
01/01/200748/2006/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 15/09/2006Bản gốcThay thế
Quyết định số 24/2005/QĐ-UBND V/v điều chỉnh mức thu phí chợ tại Mục III, Danh mục phí và mức thu phí trên địa bàn tỉnh kèm theo Quyết định 170/2004QĐ-UB ngày 02/12/2004 của UBND tỉnh Hậu Giang · 24/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 30/2006/QĐ-UBND › Phần I › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quản lý thu, nộp tiền phí, lệ phí

Cơ quan, đơn vị tổ chức thu phí, lệ phí phải đăng ký kê khai với cơ quan thuế, kê khai phí, lệ phí hàng tháng và phải nộp tờ khai thu phí, lệ phí cho cơ quan thuế trong 5 ngày đầu của tháng tiếp theo và có trách nhiệm nộp số tiền phí, lệ phí vào NSNN theo quy định không quá ngày 15 của tháng sau.

Các Sở, Ban ngành; UBND các huyện, thị xã; UBND các xã, phường, thị trấn, các đơn vị sự nghiệp của các huyện, thị xã có trách nhiệm đôn đốc các đối tượng thu phí, lệ phí thuộc phạm vi mình quản lý, tổ chức thu và đăng nộp phí, lệ phí vào NSNN hàng tháng theo quy định.

Đối với các khoản tiền ký cược để tham gia đấu thầu và tiền đặt cọc khi đã trúng thầu, các Chi cục thuế có trách nhiệm hướng dẫn đối tượng dự thầu và trúng thầu nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của Chi cục thuế tại Kho bạc Nhà nước cùng cấp và hoàn trả lại cho đối tượng trúng thầu theo quy định.

Đối với các khoản phí do các đơn vị kinh doanh, đơn vị hoạt động công ích tổ chức thu (nếu được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép) thì phải  đăng ký với cơ quan thuế để kê khai doanh thu và nộp thuế theo quy định pháp luật về thuế (khoản phí này được gọi là khoản thu không thuộc Ngân sách Nhà nước theo khoản 1 Điều 11 Nghị định số 57/2002/NĐCP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ).

Riêng các khoản thu như cho thuê kiốt, lô, sạp, ... tại các chợ, trung tâm thương mại do các cơ quan, đơn vị đầu tư để cho thuê (theo quy định của Pháp lệnh phí và lệ phí thì khoản thu này không có trong danh mục phí và lệ phí, khoản thu này được xác định là doanh thu của cơ quan, đơn vị và phải kê khai nộp thuế theo quy định về pháp luật thuế hiện hành.

Cuối năm thực hiện quyết toán chứng từ thu, số tiền thu, số nộp vào NSNN với cơ quan thuế trực tiếp quản lý; đồng thời, quyết toán việc sử dụng phí, lệ phí được trích để lại với cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống kê.