Điều 6. Xếp hạng di tích, tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích
1. Thẩm quyền, thủ tục xếp hạng đối với di tích được quy định tại khoản 11 và 12, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009.
2. Lập hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa và Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh.
3. Trách nhiệm trình hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích:
a) Đối với di tích quốc gia đặc biệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
b) Đối với di tích quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định.
c) Đối với di tích cấp tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng vào tháng 5 và tháng 10 hàng năm.
d) Đối với việc kiểm kê đưa vào danh mục bảo vệ di tích, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
4. Tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt.
b) Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh.