Điều 6. Phương thức phối hợp
1. Công an tỉnh là cơ quan đầu mối, các cơ quan khác có trách nhiệm thường xuyên phối hợp với Công an tỉnh, phân công đầu mối (lãnh đạo, chuyên viên) theo dõi, giải quyết các công việc liên quan đến công tác phối hợp quản lý; xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT theo chức năng, nhiệm vụ được giao và tổng hợp thông tin, số liệu định kỳ hàng năm hoặc đột xuất gửi về Công an tỉnh để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Các cơ quan phối hợp và cơ quan đầu mối thường xuyên, kịp thời cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT; xây dựng kế hoạch phối hợp; cử thành viên tham gia phối hợp trong kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự.
3. Để đảm bảo công tác phối hợp được kịp thời, các cơ quan có thể trao đổi thông tin qua văn bản hoặc trao đổi thông qua các phương tiện thông tin liên lạc khác.
4. Đối với từng chuyên đề, vụ việc cụ thể cần sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan thì đơn vị chủ trì đoàn liên ngành triển khai công tác có trách nhiệm bảo đảm tính pháp lý và trình tự thủ tục đối với các chuyên đề, vụ việc, chịu trách nhiệm về kinh phí trong quá trình phối hợp, báo cáo kết quả về Công an tỉnh để tổng hợp.