Điều 11. Ban chấp hành.
11.1. Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo Hội giữa 2 kỳ Đại Hội.
11.2. Số lượng ủy viên Ban Chấp hành do Đại Hội quyết định. Ban Chấp hành có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và các ủy viên Đoàn Chủ tịch.
11.3. Hình thức bầu Ban Chấp hành do Đại Hội quyết định. Danh sách các ủy viên đề cử và ứng cử vào Ban chấp hành phải được Đại Hội thông qua. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành là 5 năm. Trường hợp cần bổ sung thay thế các ủy viên Ban Chấp hành trong số lượng ủy viên Ban Chấp hành đã được Đại Hội thông qua, Ban Chấp hành được bầu bổ sung ủy viên mới do Đoàn Chủ tịch Hội giới thiệu.
11.4. Ban Chấp hành có quy chế hoạt động riêng.
11.5. Ban Chấp hành họp ít nhất hai lần trong một năm. Các phiên họp Ban Chấp hành được coi là hợp lệ khi ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Ban Chấp hành tham dự.
11.6. Các Quyết định và Nghị quyết của Ban Chấp hành được thông qua bằng biểu quyết và có hiệu lực khi ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Ban Chấp hành dự họp tán thành.
11.7. Ban Chấp hành có nhiệm vụ và quyền hạn.
- Bầu cử và bãi miễn các chức danh lãnh đạo Hội: chủ tịch, Các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Trưởng ban kiểm tra và ủy viên Đoàn Chủ tịch.
- Quyết định các biện pháp thực hiện Nghị quyết của Đại Hội.
- Quyết định chương trình công tác hàng năm.
- Thông qua kế hoạch và quyết toán tài chính nhiệm kỳ và hàng năm của Hội do Tổng Thư ký đệ trình.
- Chuẩn bị nội dung, chương trình và các tài liệu trình Đại Hội (kể cả Đại Hội bất thường).
Quy định các nguyên tắc, chế độ quản lý sử dụng tài chính tài sản của Hội, quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Hội, các đơn vị trực thuộc.
- Quyết định kết nạp, bãi miễn tư cách các Hội viên.
- Quyết định triệu tập Đại Hội.