Điều 2. Quy định địa bàn, khoảng cách từ nhà đến cơ sở giáo dục làm căn cứ xác định học sinh, học viên được hưởng chính sách hỗ trợ
1. Địa bàn làm căn cứ xác định học sinh, học viên không thể đi đến cơ sở giáo dục và trở về nhà trong ngày:
Các thôn đặc biệt khó khăn, các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng theo quy định hiện hành.
2. Khoảng cách từ nhà đến cơ sở giáo dục gần nhất đối với trường hợp phải đi qua địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn phải qua hồ; qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá:
a) Học sinh tiểu học: nhà ở xa trường khoảng cách từ 1 km trở lên.
b) Học sinh trung học cơ sở: nhà ở xa trường khoảng cách từ 2 km trở lên.
c) Học sinh trung học phổ thông: nhà ở xa trường khoảng cách từ 4,5 km trở lên.
d) Học viên giáo dục thường xuyên: nhà ở xa nơi học tập từ 2 km trở lên đối với học viên cấp trung học cơ sở, 4,5 km trở lên đối với học viên cấp trung học phổ thông.