Điều 18. Xét công nhận Sáng kiến cho tác giả (đồng tác giả) là người đứng đầu cơ sở
1. Người đứng đầu cơ sở xét công nhận Sáng kiến chính là tác giả (đồng tác giả) Sáng kiến thì phải được đánh giá thông qua Hội đồng Sáng kiến của cơ sở quy định tại Điều 8 Quy định này và trước khi quyết định công nhận Sáng kiến phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ sở đó hoặc Sở Khoa học và Công nghệ theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và Điều 7 của Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN.
2. Trường hợp Sáng kiến được tạo ra không sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật của Nhà nước và người đứng đầu cơ sở cơ sở xét công nhận Sáng kiến chính là tác giả (đồng tác giả) Sáng kiến thì Sáng kiến đó phải được đánh giá thông qua Hội đồng Sáng kiến của cơ sở đó và trước khi quyết định công nhận Sáng kiến phải được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tác giả (đồng tác giả) sáng kiến là người đứng đầu các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Bí thư cấp uỷ cấp huyện và tương đương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì kết quả xét công nhận Sáng kiến ở cơ sở phải được trình lên Uỷ ban nhân dân Tỉnh xem xét chấp thuận thông qua Hội đồng Sáng kiến cấp tỉnh;
b) Trường hợp tác giả (đồng tác giả) Sáng kiến là người đứng đầu các cơ quan chuyên môn, đơn vị đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, bí thư Đảng uỷ cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thì kết quả xét công nhận Sáng kiến ở cơ sở phải được trình lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét chấp thuận thông qua Hội đồng Sáng kiến cấp huyện;
c) Các trường hợp khác do cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ sở đó xem xét chấp thuận.
3. Hồ sơ đề nghị xét chấp thuận kết quả xét công nhận Sáng kiến cho các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này áp dụng theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 của Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN.
4. Thời hạn xem xét chấp thuận việc công nhận Sáng kiến cho các tác giả (đồng tác giả) quy định tại Khoản 2 Điều này áp dụng theo quy định tại Khoản 3, Điều 7 của Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN.