Điều 5. Rà soát quy hoạch đô thị
1. Quy hoạch đô thị phải được định kỳ xem xét, rà soát, đánh giá quá trình thực hiện để kịp thời điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Thời hạn rà soát định kỳ đối với quy hoạch chung và quy hoạch phân khu là 5 năm, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/500) là 3 năm kể từ ngày quy hoạch đô thị được phê duyệt.
2. Trách nhiệm rà soát quy hoạch đô thị:
a) Sở Quy hoạch - Kiến trúc có trách nhiệm rà soát quy hoạch chung thành phố;
b) Các Sở quản lý chuyên ngành có trách nhiệm rà soát các quy hoạch đô thị đã được Ủy ban nhân dân thành phố giao tổ chức lập quy hoạch đô thị;
c) Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Ban Quản lý đầu tư và xây dựng Khu đô thị mới Nam thành phố, Ban Quản lý đầu tư - xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Ban Quản lý Khu đô thị Tây Bắc thành phố, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp thành phố, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao thành phố (sau đây gọi là các Ban Quản lý chức năng đô thị) có trách nhiệm rà soát các quy hoạch đô thị đã được cấp thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi địa giới hành chính và được phân giao quản lý.
3. Kết quả rà soát quy hoạch đô thị phải được gửi đến Sở Quy hoạch - Kiến trúc và báo cáo bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị.
4. Căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố tác động đến quá trình phát triển đô thị, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị quyết định việc điều chỉnh quy hoạch đô thị.