Điều 12. Lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích.
1. Thẩm quyền xếp hạng đối với di tích quốc gia và cấp tỉnh được áp dụng theo quy định tại Điều 29, 30, 31 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009:
- Thủ tướng Chính phủ Quyết định xếp hạng đối với di tích quốc gia đặc biệt.
- Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng đối với di tích quốc gia;
- Chủ tịch UBND tỉnh quyết định xếp hạng đối với di tích cấp tỉnh.
2. Trách nhiệm trình đề nghị xếp hạng di tích:
- Đối với việc trình đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ;
- Đối với việc trình đề nghị xếp hạng di tích quốc gia, Chủ tịch UBND tỉnh trình;
- Đối với việc trình đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình;
- Đối với việc kiểm kê đưa vào danh mục di tích bảo vệ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
3. Hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích gồm:
- Đơn xin xếp hạng của tổ chức, cá nhân là chủ di tích;
- Tờ trình đề nghị xếp hạng di tích của UBND huyện, thành phố;
- Lý lịch di tích;
- Bản đồ vị trí và chỉ dẫn đường đến di tích;
- Tư liệu ảnh về di tích;
- Biên bản khoanh vùng bảo vệ di tích;
- Biên bản thẩm định của các cơ quan chức năng liên quan.
4. Việc tổ chức xây dựng hồ sơ di tích quốc gia do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện; hồ sơ di tích cấp tỉnh do UBND huyện, thành phố thực hiện.
5. Hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, danh mục đăng ký di tích trên địa bàn tỉnh phải được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định và đề nghị trước khi trình UBND tỉnh.