vanban.org

Điều 6. Công nhận mức đất ở đối với thửa đất có vườn, ao hiện đang sử dụng: — Quyết định 28/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 22/09/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 22/09/2014
Hà Nam Ban hành 03/10/2006 Hiệu lực 13/10/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2006/QĐ-UBND V/V BAN HÀNH QUY ĐỊNH HẠN MỨC ĐẤT Ở GIAO MỚI TỐI ĐA VÀ CÔNG NHẬN MỨC ĐẤT Ở TRONG THỬA ĐẤT CÓ VƯỜN, AO CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM · 28/2006/QĐ-UBND
22/09/201439/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 13/10/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 28/2006/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Công nhận mức đất ở đối với thửa đất có vườn, ao hiện đang sử dụng:

1. Trường hợp thửa đất có vườn, ao thuộc khu dân cư đã sử dụng trước 18/12/1980 và người sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai, mức công nhận như sau:

a) Trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở thì toàn bộ diện tích thửa đất (cả đất vườn, ao) được công nhận là đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật Đất đai.

b) Trong hồ sơ địa chính và các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất không xác định rõ ranh giới thửa đất ở thì diện tích đất ở được công nhận gấp 5 lần hạn mức quy định tại khoản 1, 2 điều 4 quy định này, cụ thể:

+ Khu vực các phường nội thị xã, khu trung tâm không quá 600 m2/hộ;

+ Khu vực các thị trấn, khu vực quy hoạch theo chuỗi đô thị, khu lân cận không quá 750 m2/hộ;

+ Các xã còn lại khu vực nông thôn không quá 1000 m2/hộ;

Mức đất ở được công nhận nêu trên không vượt quá diện tích của thửa đất.

2. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao thuộc khu dân cư đã hình thành và sử dụng từ 18/12/1980 đến 01/7/2004, mức công nhận như sau:

a) Trường hợp trong hồ sơ địa chính hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo giấy tờ đó;

b) Trường hợp trong hồ sơ địa chính và một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo số lượng nhân khẩu của hộ gia đình trong sổ hộ khẩu tại thời điểm xét duyệt cụ thể như sau:

- Khu vực nông thôn, ngoại thị xã, thị trấn diện tích đất ở công nhận cho hộ cá nhân và khẩu đầu tiên là 150 m2; mỗi khẩu tăng thêm được công nhận thêm 50 m2 nhưng tổng diện tích đất ở công nhận không quá 400 m2/hộ.

- Khu vực nội thị xã Phủ Lý, khu trung tâm thị trấn diện tích đất ở công nhận cho hộ cá nhân và khẩu đầu tiên là 80 m2; mỗi khẩu tăng thêm được công nhận thêm 30 m2 nhưng tổng diện tích đất ở công nhận không quá 200 m2/hộ.

- Nếu thửa đất có diện tích lớn hơn 400 m2 đối với đất ở nông thôn và 200 m2 đất ở đô thị thì phần diện tích còn lại được xác định theo hiện trạng sử dụng;

c) Phần diện tích đất vườn, ao không được công nhận là đất ở khi chuyển mục đích sử dụng thành đất ở phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải nộp 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp (Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất).

d) Trường hợp không có tên trong hồ sơ địa chính, không có giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật Đất đai thì diện tích đất ở được công nhận theo hạn mức quy định tại khoản 1, 2 điều 4 Quy định này.

3. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao hình thành trước 18/12/1980 nhưng đã được công hữu hoá hoặc góp vào hợp tác xã nông nghiệp mà được chính quyền địa phương giao lại cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất sau ngày 18/12/1980 thì không được công nhận là đất ở.

4. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư mà đất vườn, ao đó đã được cân đối theo tiêu chuẩn giao ruộng tại Quyết định 115/QĐ-UB ngày 15/02/1992 của UBND tỉnh Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam) “Ban hành quy định những nội dung đổi mới tổ chức quản lý HTX Nông nghiệp nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao việc thực hiện Nghị quyết X của Bộ Chính trị (khoá VI) và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII” hoặc Quyết định 990/QĐ-UB ngày 28/9/1995 của UBND tỉnh Nam Hà (nay là Hà Nam) “Ban hành quy định về việc xử lý quỹ đất nông nghiệp để dự trữ khi thực hiện Quyết định 115 và Quyết định 376 của UBND tỉnh theo Luật Đất đai năm 1993” thì không được công nhận là đất ở.