Điều 3. Cơ cấu tổ chức
1. Cục Dự trữ quốc gia được tổ chức thành hệ thống dọc; theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Cơ cấu tổ chức gồm có:
a) Bộ máy giúp việc Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia:
1. Ban Chính sách;
2. Ban Kế hoạch - Tổng hợp;
3. Ban Kỹ thuật và Công nghệ bảo quản;
4. Ban Quản lý kho hàng;
5. Ban Tài chính - Kế toán;
6. Ban Tổ chức cán bộ;
7. Văn phòng.
b) Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục: Trung tâm Khoa học bảo quản và Bồi dưỡng nghiệp vụ.
c) Tại địa phương có các tổ chức Dự trữ quốc gia khu vực trực thuộc Cục Dự trữ quốc gia, bao gồm:
1. Dự trữ quốc gia khu vực Hà Nội;
2. Dự trữ quốc gia khu vực Hà Sơn Bình;
3. Dự trữ quốc gia khu vực Tây Bắc;
4. Dự trữ quốc gia khu vực Vĩnh Phú;
5. Dự trữ quốc gia khu vực Bắc Thái;
6. Dự trữ quốc gia khu vực Hà Bắc;
7. Dự trữ quốc gia khu vực Hải Hưng;
8. Dự trữ quốc gia khu vực Đông Bắc;
9. Dự trữ quốc gia khu vực Thái Bình;
10. Dự trữ quốc gia khu vực Hà Nam Ninh;
11. Dự trữ quốc gia khu vực Thanh Hoá;
12. Dự trữ quốc gia khu vực Nghệ Tĩnh;
13. Dự trữ quốc gia khu vực Bình Trị Thiên;
14. Dự trữ quốc gia khu vực Đà Nẵng;
15. Dự trữ quốc gia khu vực Nghĩa Bình;
16. Dự trữ quốc gia khu vực Nam Trung Bộ;
17. Dự trữ quốc gia khu vực Tây Nguyên;
18. Dự trữ quốc gia khu vực thành phố Hồ Chí Minh;
19. Dự trữ quốc gia khu vực Hậu Giang.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trên đây thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
2. Cục Dự trữ quốc gia có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Các Dự trữ quốc gia khu vực có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.