Điều 3. Mức chi hỗ trợ
1. Đối với vụ án mà bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (nếu trong bản án có nhiều hình phạt khác nhau, chọn mức cao nhất để làm căn cứ hỗ trợ):
a) Mức hỗ trợ 10 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
b) Mức hỗ trợ 15 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù dưới 01 năm.
c) Mức hỗ trợ 20 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù từ 01 năm đến dưới 02 năm.
d) Mức hỗ trợ 25 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù từ 02 năm đến dưới 03 năm.
đ) Mức hỗ trợ 30 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù từ 03 năm đến dưới 04 năm.
e) Mức hỗ trợ 40 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù từ 04 năm đến dưới 05 năm.
g) Mức hỗ trợ 50 triệu đồng/vụ án: Vụ án xét xử có mức phạt tù từ 05 năm trở lên.
2. Đối với các vụ việc đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính và có biên lai nộp tiền phạt của cá nhân, tổ chức vi phạm đối với các hành vi vi phạm như: Đánh bạc và tổ chức đánh bạc dưới hình thức số đề; Cạo sửa, tẩy xóa, làm vé số giả dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng, lĩnh thưởng thì mức hỗ trợ tối đa bằng 50% số tiền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không vượt quá 15 triệu đồng/vụ.
3. Tổng mức chi cho công tác phòng, chống số đề, làm vé số giả trong năm tài chính không vượt quá 0,1% doanh thu (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt) từ hoạt động kinh doanh các loại hình xổ số mà Công ty được phép kinh doanh.