vanban.org

Điều 4. Tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin — Quyết định 27/2023/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 10/11/2023 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Lai Châu Ban hành 23/10/2023 Hiệu lực 10/11/2023 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 27/2023/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin

1. Tiếp nhận thông tin

a) Nơi tiếp nhận thông tin: Các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân nếu phát hiện hoặc có thông tin về hành vi xâm hại trẻ em có trách nhiệm thông báo ngay (trực tiếp hoặc qua điện thoại hoặc bằng các hình thức khác) cho một trong những cơ quan sau đây:

- Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111.

- Cơ quan lao động - thương binh và xã hội cấp tỉnh, cấp huyện.

- Cơ quan công an cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc.

b) Người tiếp nhận thông tin có trách nhiệm ghi chép đầy đủ thông tin về hành vi xâm hại, các yếu tố nguy cơ đối với trẻ và báo cáo theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em (sau đây viết tắt là Nghị định số 56/2017/NĐ-CP).

2. Xử lý thông tin

a) Nơi đã tiếp nhận thông tin về trường hợp trẻ em bị xâm hại theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Quy chế này có trách nhiệm chuyển ngay thông tin đến UBND cấp xã nơi xảy ra vụ việc để thực hiện các bước tiếp theo của quy trình.

b) Đối với trường hợp cơ quan Công an các cấp tiếp nhận nguồn tin về đối tượng có hành vi bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trẻ em kể từ khi bắt đầu giải quyết vụ việc phải thông tin ngay đến UBND cấp xã nơi xảy ra vụ việc để kịp thời cử người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã hoặc thành viên trong Ban Bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã, phường, thị trấn đến tiếp cận, nắm thông tin và theo dõi vụ việc; trong quá trình xác minh, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án thì khi làm việc với trẻ em, cơ quan điều tra phải đảm bảo sự có mặt của người giám hộ trẻ em, cử điều tra viên có kinh nghiệm thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

c) Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, chỉ đạo người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để kiểm tra tính xác thực của các thông tin đã được tiếp nhận bằng cách gọi điện thoại hoặc trực tiếp đến địa bàn nơi xảy ra vụ việc, nơi trẻ em đang ở; đánh giá thực trạng vụ việc, nguy cơ mất an toàn và mức độ gây tổn hại đối với trẻ em để có các biện pháp can thiệp kịp thời; hướng dẫn trẻ em và gia đình cách lưu giữ chứng cứ để phục vụ công tác điều tra. Trong quá trình làm việc với trẻ em (khi thu thập lời khai, chứng cứ) phải đảm bảo sự có mặt của người đại diện của trẻ em, ưu tiên điều tra viên nữ, cán bộ điều tra nữ (đối với nạn nhân là trẻ em gái) hoặc người bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người bào chữa cho trẻ em. Đối với trường hợp trẻ em bị chính cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục, thì người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm phối hợp ngay với cơ quan Công an và các đơn vị có liên quan can thiệp khẩn cấp để tách trẻ ra khỏi môi trường mất an toàn.

3. Báo cáo kết quả xử lý thông tin

Trong vòng 02 giờ kể từ thời điểm nhận thông tin vụ việc, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phải báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý tính xác thực của thông tin cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng Ban Bảo vệ trẻ em cấp xã; đồng thời, báo cáo nhanh về Ban Chỉ đạo Bảo vệ trẻ em cấp huyện (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) để phối hợp và triển khai các biện pháp hỗ trợ, can thiệp theo quy định.