Điều 11. Tiến hành cưỡng chế
1. Ban thực hiện cưỡng chế tiến hành cưỡng chế với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và tham gia chứng kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện khu dân cư nơi thực hiện cưỡng chế.
Trước khi bắt đầu việc cưỡng chế, người chủ trì cưỡng chế công bố công khai nội dung quyết định cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế, thời hạn thực hiện việc cưỡng chế; nêu rõ quyền và nghĩa vụ của người bị cưỡng chế, người thực hiện cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người bị cưỡng chế vắng mặt hoặc đã ký tên vào biên bản đối thoại ghi nhận sự chấp hành nhưng sau đó không tự nguyện chấp hành trong thời hạn quy định, ban thực hiện cưỡng chế vẫn tiến hành việc cưỡng chế sau khi đã công bố quyết định cưỡng chế.
2. Ban thực hiện cưỡng chế có quyền yêu cầu người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi thửa đất cưỡng chế và tự tháo dỡ, di chuyển tài sản hoặc yêu cầu lực lượng cưỡng chế tiến hành cưỡng chế theo kế hoạch cưỡng chế đã được phê duyệt.
3. Việc tạm giữ tài sản và xử lý tài sản tạm giữ được thực hiện như sau:
a) Trong trường hợp người bị cưỡng chế và những người liên quan từ chối nhận tài sản khi ban thực hiện cưỡng chế tiến hành cưỡng chế theo kế hoạch thì biên bản cưỡng chế phải ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản; ban thực hiện cưỡng chế bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để tạm giữ, bảo quản và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản; người có tài sản phải chịu mọi chi phí vận chuyển, bảo quản tài sản.
b) Trong trường hợp đã thông báo công khai mà không có người nhận lại tài sản thì Ủy ban nhân dân cấp xã xử lý tài sản đã tạm giữ theo quy định của pháp luật.
4. Ban thực hiện cưỡng chế xác định ranh giới, mốc giới thửa đất trên thực địa và bàn giao đất cho người sử dụng đất hợp pháp theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.
5. Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản cưỡng chế ghi nhận toàn bộ diễn biến việc tiến hành cưỡng chế đã được thực hiện, việc bàn giao tài sản tạm giữ, việc bàn giao đất trên thực địa và các tình huống phát sinh.
Biên bản cưỡng chế phải có chữ ký của đại diện lực lượng trực tiếp cưỡng chế, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, người bị cưỡng chế, người chứng kiến, người sử dụng đất hợp pháp, người lập biên bản. Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối ký biên bản thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do.