Điều 11. Khai thác lâm sản trong rừng sản xuất là rừng trồng
1. Được khai thác tất cả các lâm sản trong rừng trồng
2. Thẩm quyền cho phép khai thác rừng trồng:
a) Trường hợp rừng trồng đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước:
- Ủy quyền Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hồ sơ và cấp giấy phép khai thác cho các khu rừng trồng đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước mà chủ rừng là tổ chức thuộc tỉnh;
- Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép khai thác các khu rừng mà chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân.
b) Trường hợp rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư hoặc được Nhà nước hỗ trợ:
- Chủ rừng tự quyết định thời gian khai thác, tự do lưu thông tiêu thụ sản phẩm rừng trồng. Khi khai thác rừng trồng, chủ rừng gửi giấy báo trước 10 ngày làm việc cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có rừng khai thác biết.
- Khi nhận được giấy báo của chủ rừng về việc khai thác gỗ rừng trồng, trong thời gian 10 ngày làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có rừng khai thác phải có biện pháp theo dõi và giúp đỡ, bảo đảm cho chủ rừng khai thác, tiêu thụ sản phẩm rừng trồng được thuận lợi. Mọi hành vi gây khó khăn cản trở chủ rừng trồng trong việc khai thác, lưu thông, tiêu thụ gỗ và sản phẩm rừng trồng phải được xử lý nghiêm theo pháp luật.