Điều 15. Đóng cửa mỏ
1. Sau khi giấy phép khai thác mỏ hết hiệu lực hoặc đề nghị trả giấy phép khai thác mỏ đã được cơ quan cấp giấy chấp nhận bằng văn bản khu vực khai thác mỏ sẽ được bàn giao để bảo vệ, chủ giấy phép khai thác phải đồng gửi đến Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam và Sở Công nghiệp.
a) Đề án đóng cửa mỏ để bảo vệ trong đó cần làm rõ:
- Lịch sử khai thác mỏ và lý do đóng cửa mỏ.
- Trữ lượng khoáng sản, trữ lượng thăm dò, trữ lượng khai thác theo thiết kế, trữ lượng đã khai thác thực tế, trữ lượng tổn thất theo các nguyên nhân, trữ lượng chưa khai thác kể cả các khoáng sản trong bãi thải của mỏ.
Hiện trạng công trình mỏ kể cả bãi thải và các công trình ngoài phạm vi khai trường.
- Những công việc và biện pháp đóng cửa mỏ để bảo vệ trong đó nêu rõ những biện pháp bảo về trữ lượng chưa khai thác và các công trình mỏ kể cả các bãi thải, công việc khôi phục mỏ và môi trường khi đóng cửa mỏ.
- Khối lượng và thời gian hoàn thành các công việc phải làm để đóng cửa mỏ.
- Chi phí đóng cửa mỏ và các khoản bồi thường khác do hoạt động khai thác mỏ và đóng cửa mỏ gây ra.
b) Bản thống kê tài liệu theo quy định của Bộ Công nghiệp.
c) Bản đồ tổng mặt bằng mỏ ở thời điểm đóng cửa mỏ, bản đồ hiện trạng các công trình mỏ ở thời điểm đóng cửa mỏ.
2. Chủ giấy phép khai thác mỏ chịu trách nhiệm lập đề án đóng cửa mỏ sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Cơ quan có trách nhiệm chủ trì tổ chức nghiệm thu kết quả đề án đóng cửa mỏ, nhận bàn giao từ chủ giấy phép khai thác mỏ những tài liệu theo quy định của Bộ Công nghiệp gồm:
- Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam đối với các mỏ do Bộ Công nghiệp cấp giấy phép khai thác mỏ.
- Phòng quản lý tài nguyên khoáng sản Sở Công nghiệp đối với các mỏ do Chủ tịch UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác.