Điều 13 :
1- Mức dền bù đối với cây hãng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch 1 vụ trước đó theo mức giá quy định tại phụ lục số 3 kèm theo Bản quy định này.
1.1- Đối với cây hằng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước thu hoạch 1 fân thì được đền bù 1 vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của 3 vụ.
1.2- Đối với cây hằng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước thu hoạch nhiêu lứa trong 1 vụ thì được đền bù đối đa 3 lứa.
2- Mức đền bù đối với cây lâu năm tròng xen kẻ trong vườn nhà được áp dụng theo mức giá quy định tai phụ lục số 3 kèm theo Bản quy định này.
- Đối với rừng trồng : Tùy theo từng loại cây, Ban quản lý công trình phối hợp với Sở Tài chính-vật giá, Sở Thủy sản-nông lâm tính toán trình UBND TP Đà Nẵng quy định cụ thể theo nguyên tắc :
2.1- Nếu cây trồng đang ở thời kỳ XDCB hoặc mới bắt đầu thu hoạch thì đền bù toàn bộ chi phí dâu tư ban dâu, chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
2.2- Nếu cây đang ở thời kỳ thu hoạch thì đền bù theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị dâu tư ban đâu cộng chi phí chăm sóc đến vụ thu hoạch dâu tiên trừ phân khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức đền bù tối đa bằng 2 nãm sản lượng tính theo sản lượng bình quân của 3 năm trước đó và theo giá của nông sản cùng loại ỗ thị trường Đà Nẵng tại thời điểm đền bù.
2.3- Nếu là các loại cây lâu năm thu hoạch 1 Tân thì dên bù toàn bộ chi phí dâu tư ban dâu và chi phí chăm sốc tính đến thời điểm thu hồi đất.
2.4- Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thanh lý, cây lấy gỗ đến thời kỳ thu hoạch thì chỉ đền bù chi phí cho việc chặt hạ.