Điều 5. Phối hợp trong việc rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi
1.Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã:
a) Hằng tháng rà soát, đánh giá việc trẻ em đang cư trú trên địa bàn cần được nhận làm con nuôi đối với các trường hợp: Trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện rà soát, đánh giá trẻ em cần được nhận làm con nuôi cần lưu ý đến độ tuổi, nhân thân (căn cứ vào giấy khai sinh), tình trạng sức khỏe và nguyện vọng của trẻ.
b) Nếu có cá nhân, gia đình cư trú tại địa phương nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.
c) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi không có cá nhân, gia đình cư trú tại địa phương nhận trẻ em làm con nuôi thì Uỷ ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
2. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện:
a) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện tốt công tác rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi theo Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi.
b) Có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi khi nhận được đầy đủ hồ sơ do cơ sở nuôi dưỡng trên địa bàn gửi.
3. Trách nhiệm của Cơ sở nuôi dưỡng
Đánh giá việc trẻ em sống ở cơ sở nuôi dưỡng cần được nhận làm con nuôi. Thực hiện giao hồ sơ trẻ em
cho người nhận con nuôi để thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi hoặc lập danh sách, hồ sơ của trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại Điểm a và Điểm b, Khoản 1, Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi, xin ý kiến của cơ quan chủ quản theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4, Điều 1 Nghị định 24/2019/NĐ-CP.
4. Trách nhiệm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ do cơ sở nuôi dưỡng gửi, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi.
5. Trách nhiệm của Sở Tư pháp:
a) Khi tiếp nhận hồ sơ trẻ em, nếu có người dân cư trú trên địa bàn tỉnh đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và đủ điều kiện nhận con nuôi thì Sở Tư pháp có công văn giới thiệu và giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
b) Trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và trẻ em không thuộc diện quy định tại Khoản 2, Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì Sở Tư pháp phối hợp với Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Báo Phú Yên để thông báo, đăng tin miễn phí tìm người nhận trẻ em làm con nuôi trên phạm vi toàn tỉnh (đăng 03 lần liên tiếp), đồng thời đăng tải trên Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp.
Trường hợp trong thời gian đăng tin tìm gia đình thay thế cho trẻ em, nếu có người dân có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi thì phải đăng ký nhu cầu nhận con nuôi tại Sở Tư pháp. Sở Tư pháp có công văn giới thiệu và giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi theo quy định.
c) Sau khi hết thời hạn thông báo (60 ngày) theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi, nếu không có công dân Việt Nam thường
trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Sở Tư pháp gửi 01 bộ hồ sơ trẻ em theo quy định tại Khoản 1, Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi cho Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định tại Điểm d Khoản 2, Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi.
Trong thời gian đăng tin tìm gia đình thay thế trên toàn quốc, nếu có công dân Việt Nam thường trú trong nước có nguyện vọng, đủ điều kiện nhận con nuôi và đăng ký nhu cầu nhận con nuôi tại Sở Tư pháp, thì Sở Tư pháp thông báo Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp để xóa tên trẻ em trong danh sách cần tìm gia đình thay thế sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.
d) Trường hợp không có người dân cư trú ở địa phương đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và trẻ em thuộc diện quy định tại Khoản 2, Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì Sở Tư pháp xác nhận trẻ em đủ điều kiện được cho làm con nuôi nước ngoài và gửi Cục Con nuôi 01 bộ hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 1, Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi và văn bản xác nhận trẻ em đủ điều kiện được cho làm con nuôi nước ngoài, văn bản xác minh của Công an tỉnh đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, văn bản lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ và ý kiến của trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi; trường hợp trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng thì phải có văn bản lấy ý kiến của Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng về việc cho trẻ em làm con nuôi, để tìm người nhận con nuôi đích danh có điều kiện phù hợp với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em.
6. Trách nhiệm của Sở Thông tin và truyền thông
Phối hợp với Sở Tư pháp trong việc bảo đảm đăng tải miễn phí thông tin về việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em trên Đài Phát thanh - Truyền hình, Tòa soạn Báo Phú Yên theo đề nghị của Sở Tư pháp.