Điều 5. Điều chỉnh độ mật, giải mật
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức tạo ra bí mật nhà nướccó thẩm quyền quyết định bằng văn bản điều chỉnh tăng hoặc giảm độ mật theo danh mục bí mật nhà nước. Sau khi điều chỉnh xong phải đóng dấu theo mẫu số 06, Thông tư số 24/2020/TT-BCA và thông báo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan biết theo quy định.
- Bí mật nhà nước được giải mật toàn bộ hoặc một phần:
a) Trường hợp hết thời hạn bảo vệ và thời gian gia hạn bảo vệ thì đương nhiên giải mật, không thực hiện quy trình giải mật, không phải đóng dấu giải mật. Trường hợp không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước thì phải đóng dấu giải mật và thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan;
b)Trường hợp giải mật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế thì phải tiến hành giải mật theo quy định tại khoản 4, Điều 22, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.