Điều 4. Cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi
1. Đối với các công trình thuỷ lợi xây dựng mới hoặc đang lập dự án đầu tư: Chủ đầu tư xây dựng công trình phải thực hiện cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và bàn giao lại cho tổ chức, cá nhân quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Kinh phí cắm mốc được đưa vào dự toán chi phí xây dựng công trình.
2. Đối với các công trình thuỷ lợi đã đưa vào khai thác trước khi Quy định này có hiệu lực mà chưa cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi sẽ do tổ chức, cá nhân quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thực hiện.
3. Các công trình, hạng mục công trình phải cắm mốc chỉ giới và khoảng cách giữa các mốc
Ngoài các trường hợp phải cắm mốc chỉ giới quy định tại Điều 19 Thông tư số 05/2018/TT-BNNPTNT ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phải thực hiện cắm mốc chỉ giới đối với công trình, hạng mục công trình sau:
a) Đối với đập của hồ chứa nước, đập tràn có dung tích dưới 500.000m³ hoặc đập có chiều cao dưới 10m: Căn cứ vào địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách giữa hai mốc liền nhau là 100m; trường hợp gần khu đô thị, khu dân cư tập trung là 50m.
b) Lòng hồ chứa nước có dung tích dưới 500.000m³: căn cứ vào địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, cắm mốc theo đường biên (tại các điểm chuyển hướng) có cao trình bằng cao trình đỉnh đập, khoảng cách 2 mốc liền nhau từ 200m đến 500m, khu vực lòng hồ có độ dốc lớn hoặc không có dân cư sinh sống khoảng cách giữa 2 mốc liền nhau lớn hơn 1000m.
c) Lòng hồ chứa nước được tạo bởi đập trân: Căn cứ vào địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, cắm mốc theo đường biên (tại các điểm chuyên hướng) có cao trình bằng cao trình mực nước lũ kiểm tra, khoảng cách 2 mốc liền nhau từ 200m đến 500m, khu vực lòng hồ có độ dốc lớn hoặc không có dân cư sinh sống khoảng cách giữa 2 mốc liền nhau lớn hơn 1000m.
d) Đối với kẻ bở: Căn cứ vào địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quân lý, khoảng cách giữa 2 mốc liền nhau từ 200m đến 300m, trường hợp gần khu đô thị, dân cư tập trung từ 100m đến 150m. Trường hợp kẻ bờ có kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng khác, nếu phạm vi vùng phụ cận nằm trong hệ thống cơ sở hạ tầng khác thì không phải cắm mốc chỉ giới.
đ) Đối với trạm bơm: Trường hợp chưa xây dựng được hàng rào bảo vệ thi cắm mốc tại các điểm góc theo phạm vi đất được thu hồi; trường hợp đã xây hàng rào bảo vệ thì không phải cắm mốc.
e) Kênh nổi có lưu lượng từ 5m³/s trở xuống hoặc chiều rộng đáy kênh từ 5m trở xuống: Căn cứ vào địa hình khu vực cấm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách 2 mốc liền nhau từ 200m đến 250m (kênh đi qua đô thị, khu dân cư tập trung) và 400m đến 500m (kênh không đi qua đô thị, khu dân cư tập trung).
g) Kênh chỉm và đường ống dẫn nước: Căn cứ vào địa hình khu vực cẩm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách 2 mốc liền nhau từ 150m đến 200m (kênh đi qua đô thị, khu dân cư tập trung) và 300m đến 400m (kênh không đi qua đô thị, khu dân cư tập trung).
h) Cổng có tổng chiều rộng thoát nước dưới 5m: Căn cứ vào địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách 2 mốc liền nhau từ 5m đến 10m (công nằm trong khu đô thị, khu dân cư tập trung) và 10m đến 20m (cống nằm ngoài khu đô thị, khu dân cư tập trung). Tại các điểm góc của đường chỉ giới phải có mốc.