vanban.org

Điều 5. Xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật — Quyết định 26/2016/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/05/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 1324/QĐ-UBND · 14/05/2026
Bắc Kạn Ban hành 26/08/2016 Hiệu lực 05/09/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 26/2016/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Phối hợp trong việc xem xét, đánh giá về tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

1.1. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh:

a) Nghiên cứu, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành, xác định nội dung cần tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo thẩm quyền;

b) Đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định; Hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;

c) Xây dựng dự thảo và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét để trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành theo đúng nội dung, tiến độ đã được cấp có thẩm quyền tại tiểu tiết b điểm 1.1 khoản 1 điều này quyết định;

d) Ngoài việc đề nghị và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thường xuyên rà soát, theo dõi, đối chiếu với quyết định xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hằng năm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành để phát hiện các văn bản chưa được ban hành hoặc không đảm bảo tiến độ và chất lượng soạn thảo hoặc không cần thiết phải ban hành, xác định nguyên nhân và kiến nghị phương án xử lý;

đ) Phối hợp với Sở Tư pháp, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, điều chỉnh quyết định xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành hoặc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, điều chỉnh quyết định xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành.

1.2. Sở Tư pháp:

Căn cứ các nội dung tại khoản 1 Điều này, chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện các việc sau:

a) Đánh giá tính kịp thời, đầy đủ của việc rà soát, đề nghị ban hành văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh;

b) Đánh giá tiến độ của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở so sánh với thời điểm dự kiến cần phải ban hành theo tiến độ đã được giao;

c) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng, tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;

d) Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo về tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của Bộ Tư pháp. Báo cáo nêu rõ tiến độ xây dựng đối với từng văn bản, những khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đề xuất giải pháp tháo gỡ.

2. Xem xét, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của văn bản quy định chi tiết:

Tính thống nhất, đồng bộ của văn bản quy phạm pháp luật được xem xét, đánh giá theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 14/2014/TT-BTP. Cụ thể:

2.1. Công chức chuyên trách cấp xã có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp nhận phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đối với văn bản cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh liên quan đến lĩnh vực được giao phụ trách, kịp thời phát hiện văn bản có nội dung không thống nhất, không đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản cấp trên và kiến nghị hình thức xử lý, gửi công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý;

2.2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cấp huyện có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp nhận phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đối với văn bản cấp huyện, cấp tỉnh, Trung ương thuộc lĩnh vực cơ quan mình quản lý, kịp thời phát hiện văn bản có nội dung không thống nhất, đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản cấp trên và kiến nghị hình thức xử lý, gửi Phòng Tư pháp.

Phòng Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý;

2.3. Thủ trưởng các Sở, ban, ngành cấp tỉnh có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp nhận phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đối với văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, các Bộ, ngành Trung ương thuộc lĩnh vực đơn vị phụ trách, kịp thời phát hiện văn bản có nội dung không thống nhất, không đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản cấp trên, gửi danh mục kiến nghị hình thức xử lý đến Sở Tư pháp.

Thủ trưởng các Sở, ban, ngành cấp tỉnh phân công Phòng pháp chế hoặc công chức được giao làm công tác pháp chế hoặc đơn vị được giao làm đầu mối tham mưu, giúp Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ này. Công chức được giao làm nhiệm vụ pháp chế hoặc đơn vị làm đầu mối có trách nhiệm kịp thời tổng hợp, tham mưu Thủ trưởng cơ quan gửi danh mục và kiến nghị hình thức xử lý đến Sở Tư pháp

2.4. Sở Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý văn bản theo quy định.

3. Xem xét, đánh giá tính khả thi của văn bản:

Các cơ quan, đơn vị, cá nhân kịp thời phát hiện, xem xét, đánh giá văn bản cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, Trung ương có nội dung không bảo đảm tính khả thi hoặc có khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 14/2014/TT-BTP, kiến nghị hình thức xử lý gửi đến cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo trình tự và thời gian quy định.