vanban.org

Điều 1. Ban hành mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp biển số nhà trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, như sau: — Quyết định 26/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 24/08/2007 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Quảng Nam Ban hành 14/08/2007 Hiệu lực 24/08/2007 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 26/2007/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Ban hành mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp biển số nhà trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, như sau:

1. Lệ phí cấp biển số nhà là khoản thu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp biển số nhà (bao gồm: nhà mặt đường, nhà mặt phố; nhà trong ngõ, nhà trong ngách; căn hộ của nhà chung cư).

2. Đối tượng nộp: Chủ sở hữu nhà hoặc người đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm nộp lệ phí cấp biển số nhà. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì người đang sử dụng có trách nhiệm nộp lệ phí cấp biển số nhà.

3. Cơ quan thu: Cơ quan quản lý nhà nước về đô thị, cơ sở hạ tầng (Ban Quản lý đô thị, Phòng quản lý cơ sở hạ tầng) huyện, thị xã, thành phố có nhiệm vụ tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp biển số nhà theo Quyết định này.

4. Mức thu

+ Cấp mới: 30.000 đồng/1 biển số nhà.

+ Cấp lại: 20.000 đồng/1 biển số nhà.

5. Quản lý và sử dụng: Lệ phí cấp biển số nhà là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước, được quản lý và sử dụng như sau:

5.1. Quản lý: Cơ quan thu phí sử dụng biên lai thu của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế và đăng ký, kê khai, thu, nộp, quyết toán lệ phí với cơ quan Thuế; mở tài khoản tạm giữ tiền lệ phí tại Kho bạc Nhà nước nơi thu để theo dõi, quản lý. Căn cứ tình hình thu lệ phí; định kỳ hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng phải nộp số tiền lệ phí thu được vào tài khoản tạm giữ và tổ chức hạch toán riêng khoản thu này theo quy định hiện hành của Nhà nước.

5.2. Sử dụng: Cơ quan thu lệ phí được trích để lại 75%/ tổng số lệ phí thực thu (tỷ lệ % số lệ phí để lại ổn định trong thời kỳ ổn định ngân sách 2007-2010), để chi phí cho việc tổ chức quản lý thu và cấp biển số nhà theo nội dung như sau:

- Chi thanh toán cho cá nhân trực tiếp thực hiện công việc thu lệ phí (trừ chi phí tiền lương cho cán bộ công chức đã hưởng lương từ ngân sách Nhà nước).

- Chi phí trực tiếp phục vụ cho việc thu lệ phí.

- Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác thu lệ phí.

- Chi mua vật tư, nguyên liệu và các khoản chi khác liên quan đến việc thực hiện công việc thu lệ phí.

- Chi khen thưởng, phúc lợi cho cán bộ, nhân viên trực tiếp thu lệ phí trong đơn vị, sau khi đảm bảo các khoản chi phí thu lệ phí theo nguyên tắc bình quân một người không quá 3 tháng lương thực hiện, nếu số thu năm sau cao hơn năm trước và tối đa bằng 2 tháng lương thực hiện, nếu số thu năm sau thấp hơn hoặc bằng năm trước.

Riêng, đối với các đơn vị thu lệ phí là cơ quan Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; các đơn vị thu lệ phí là đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, sử dụng phần lệ phí được trích để lại, sau khi đảm bảo các khoản chi phí thu lệ phí để chi bổ sung thu nhập cho người lao động, chi khen thưởng, phúc lợi, trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập cho người lao động trong đơn vị theo quy định.

Cuối năm, nếu số tiền lệ phí được trích để lại chưa sử dụng hết, thì chuyển sang năm sau.

5.3. Số tiền lệ phí thực thu còn lại (25%), cơ quan thu phải nộp vào ngân sách nhà nước theo chương, loại, khoản, mục, tiểu mục tương ứng của mục lục ngân sách nhà nước.

5.4. Hàng năm, căn cứ mức thu lệ phí, nội dung chi theo quy định tại quyết định này và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, cơ quan thu lệ phí lập dự toán thu, chi tiền lệ phí chi tiết theo mục lục ngân sách gởi cơ quan chủ quản hoặc cơ quan tài chính cùng cấp xét duyệt. Cơ quan thu lệ phí thực hiện quyết toán việc sử dụng biên lai thu lệ phí, số tiền lệ phí thu được; số tiền lệ phí để lại đơn vị, số tiền lệ phí phải nộp ngân sách, số tiền lệ phí đã nộp ngân sách và số tiền lệ phí còn lại phải nộp ngân sách nhà nước với cơ quan thuế trực tiếp quản lý; quyết toán việc sử dụng số tiền lệ phí được trích để lại với cơ quan tài chính cùng cấp.