Điều 8. Mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi sử dụng đất trồng lúa; đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất; đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừng phòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất; đất trong nhóm đất phi nông nghiệp vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại Điều 9, 10, 11 và 12 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP
1. Buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi vi phạm tại Điều 9, 10, 11 và 12 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP.
2. Xác định tình trạng ban đầu của đất, mức độ khôi phục, biện pháp khôi phục, kết quả khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất tại khoản 1 Điều này như sau:
a) Tình trạng ban đầu của đất được xác định theo giấy tờ về quyền sử dụng đất hợp pháp, hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy định này.
b) Mức độ khôi phục thực hiện theo quy định tại Điều 4 Quy định này trên cơ sở căn cứ vào hồ sơ vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt sẽ quyết định cụ thể mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
c) Biện pháp khôi phục thực hiện theo quy định tại Điều 6 Quy định này trên cơ sở căn cứ vào hồ sơ vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt sẽ quyết định biện pháp khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm cụ thể.
d) Công nhận kết quả khôi phục thực hiện theo quy định tại Điều 7 Quy định này, trên cơ sở được xác lập bằng Biên bản.