Điều 19. Phương thức đánh giá
1. Căn cứ đánh giá hiệu quả và xếp loại doanh nghiệp
a) Kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính hằng năm của doanh nghiệp;
b) Kết quả thực hiện kế hoạch định kỳ sáu (06) tháng, hằng năm;
c) Báo cáo tài chính sáu (06) tháng, hằng năm. Trong đó, đối với báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán. Trường hợp cơ quan kiểm toán độc lập có ý kiến ngoại trừ một số vấn đề làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm giải trình cụ thể bằng văn bản gửi Sở Tài chính để báo cáo UBND thành phố xem xét quyết định giữ nguyên hay điều chỉnh số liệu về kết quả kinh doanh tại báo cáo tài chính. Cơ quan đại diện chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình và thuyết minh rõ trong văn bản lấy ý kiến tham gia của Bộ Tài chính về việc xếp loại doanh nghiệp.
d) Kết quả giám sát tài chính doanh nghiệp;
e) Các vấn đề phát sinh có thể tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch đầu
tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
2. Việc đánh giá hiệu quả và xếp loại doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở so sánh giữa kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ được UBND thành phố giao với kết quả thực hiện.
3. Phương pháp đánh giá đối với từng chỉ tiêu được thực hiện theo Điều 14 Thông tư số 200/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính.
4. Tổng hợp xếp loại doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP của Chính phủ; xếp loại người quản lý doanh nghiệp được thực hiện theo Khoản 3, Điều 14 Thông tư số 200/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính.