Điều 2. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở.
1. Khi nhà nước thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, ngoài ra còn được hỗ trợ theo quy định sau:
a. Mức hỗ trợ: Bằng 50% giá đất ở, nhưng tổng giá đất đền bù và giá đất hỗ trợ không vượt quá so với giá đất ở của thửa đất đó.
b. Diện tích đất được hỗ trợ: Tính theo diện tích thực tế nhưng tối đa không vượt quá 4 lần hạn mức đất ở tại địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
2. Khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi được bồi thường theo giá đất nông nghiệp, ngoài ra còn được hỗ trợ theo quy định sau:
a. Mức hỗ trợ: Bằng 30% giá đất ở trung bình của khu vực có đất bị thu hồi theo quy định trong bảng giá đất của địa phương, nhưng tổng giá đất bồi thường và giá đất hỗ trợ không vượt quá so với giá đất ở của thửa đất đó.
b. Diện tích đất được hỗ trợ: Tính theo diện tích thực tế nhưng tối đa không vượt quá 4 lần hạn mức đất ở tại địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.