Điều 4. Xếp hạng di tích, tổ chức đón Bằng xếp hạng di tích
1. Thẩm quyền xếp hạng đối với di tích được áp dụng theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
2. Điều kiện xếp hạng di tích.
a) Di tích được lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích phải đáp ứng được các tiêu chí quy định tại Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Di sản văn hóa và Khoản 2 Điều 28 Luật Di sản văn hóa;
b) Đối với di tích đề nghị xếp hạng di tích cấp quốc gia lấy cơ sở từ các di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh;
c) Đối với di tích đề nghị xếp hạng cấp tỉnh lấy cơ sở từ danh mục kiểm kê di tích được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, công bố;
d) Đối với các trường hợp khác phải có văn bản đồng ý chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Nội dung hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích phải đầy đủ thành phần theo quy định tại Điều 13, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ và nội dung chi tiết theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh.
4. Tổ chức lễ công bố và trao Bằng xếp hạng di tích.
a) Sau khi có Quyết định xếp hạng di tích, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức lễ công bố và trao Bằng xếp hạng đối với di tích quốc gia đặc biệt;
b) Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lễ công bố và trao Bằng xếp hạng di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh;
c) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lễ công bố và trao Bằng di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia;
d) Kinh phí tổ chức lễ công bố và trao Bằng xếp hạng di tích được hỗ trợ từ nguồn ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và huy động nguồn kinh phí xã hội hóa.