Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và lễ hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
1. Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 10: Bảo quản, tu bổ, phục hồi, tu sửa cấp thiết di tích
Các hoạt động liên quan đến bảo quản, tu bổ, phục hồi, tu sửa cấp thiết di tích thực hiện theo quy định tại Nghị định 166/2018/NĐ-CP ngày 25/12/2018 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước và tỉnh Bắc Kạn có liên quan.”
2. Khoản 1, khoản 4 Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 11: Phân công quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di tích
1. Di tích Quốc gia đặc biệt Hồ Ba Bể: Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể giao cho Ban Quản lý Khu du lịch Ba Bể trực tiếp quản lý phát huy giá trị.
4. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phân công nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát huy các di tích còn lại trên địa bàn cho Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông.”
3. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 16: Lễ hội thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế
1. Lễ hội truyền thống.
2. Lễ hội văn hóa.
3. Lễ hội ngành nghề.
4. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài.”
4. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 17: Quy định về tổ chức, quản lý lễ hội
Việc tổ chức và quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thực hiện theo quy định tại Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội.”
5. Điều 19 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 19: Phân cấp quản lý lễ hội.
1. Cấp tỉnh:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền;
b) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện kiểm kê, phân loại lễ hội, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa lễ hội; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo công tác xây dựng đề án, đề tài nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn giám sát, thanh tra, kiểm tra kịp thời xử lý vi phạm trong quản lý và tổ chức lễ hội.
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện tốt công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định, bảo đảm các hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh được tiến hành trang trọng, đúng nghi lễ truyền thống; loại bỏ hoặc thay thế những tập tục không còn phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển.
Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng báo cáo định kỳ việc quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh đến cơ quan cấp trên đúng thời hạn quy định.
2. Cấp huyện:
a) Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn huyện, thành phố;
b) Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý, tổ chức lễ hội tại địa phương; có trách nhiệm hướng dẫn việc thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thông báo tổ chức lễ hội cấp huyện, cấp xã; kiểm kê, phân loại lễ hội và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động lễ hội tại địa phương; báo cáo định kỳ việc quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn huyện, thành phố đến cơ quan cấp có thẩm quyền đúng thời hạn quy định.
3. Cấp xã:
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn; kiểm kê, phân loại lễ hội và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động lễ hội tại địa phương; báo cáo định kỳ việc quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn đến cơ quan cấp có thẩm quyền đúng thời hạn quy định.”