Điều 4. Quy trình chấm điểm xét duyệt đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội
1. Sau khi chủ đầu tư tiếp nhận đầy đủ thành phần hồ sơ hợp lệ của các đối tượng đăng ký mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP. Chủ đầu tư căn cứ thành phần hồ sơ và nguyên tắc, tiêu chí xét duyệt để xem xét từng hồ sơ đăng ký, đối chiếu với các quy định về đối tượng, điều kiện theo quy định tại Điều 49 và Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 3 Quy định này để tiến hành chấm điểm với mức thang bảng điểm tối đa là 100 điểm, cụ thể như sau:
a) Bước 1: Tiến hành chấm điểm các tiêu chí khó khăn về nhà ở, về đối tượng và các tiêu chí khác theo quy định tại điểm 1, 2, 3, Khoản 2, Điều 23 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP.
b) Bước 2: Chấm điểm tiêu chí ưu tiên theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Quy định này.
c) Bước 3: Cộng tổng số điểm của 02 phần chấm điểm của bước 1 và bước 2 nêu trên.
2. Căn cứ vào nhu cầu số lượng căn hộ cần bán của dự án, chọn đối tượng có tổng số điểm đã chấm từ cao đến thấp.
3. Sau khi thực hiện chọn đối tượng theo Khoản 2, Điều 4, Quy định này mà còn nhiều trường hợp có số điểm bằng nhau vượt tổng số căn hộ được đầu tư thì chủ đầu tư tổ chức lựa chọn hình thức bốc thăm công khai.
4. Trường hợp số lượng hồ sơ đăng ký thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội sau khi chấm điểm cao hơn số lượng căn hộ cần bán của dự án thì Chủ đầu tư có trách nhiệm chọn ra các đối tượng đủ điều kiện dự kiến được giải quyết mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo thứ tự ưu tiên. Đồng thời, thông báo cho những đối tượng không nằm trong dự kiến được giải quyết mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo thứ tự ưu tiên biết rõ lý do chưa được xem xét, giải quyết.
5. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp danh sách các đối tượng dự kiến được giải quyết mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo thứ tự ưu tiên gửi về Sở Xây dựng để kiểm tra và công bố theo quy định.