Điều 6. Hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức và cá nhân tôn giáo
1. Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức và cá nhân tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này về việc tổ chức hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện
2. Văn bản thông báo nêu rõ mục đích, phạm vi, cách thức, thời gian tổ chức thực hiện hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện; cơ chế quản lý; phân bổ kinh phí, hàng hóa; đối tượng tiếp nhận.
3. Cơ quan nhận thông báo về việc hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức và cá nhân tôn giáo:
a) Trường hợp tổ chức thực hiện hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện trong phạm vi một xã, thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức;
b) Trường hợp tổ chức thực hiện hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện vượt ra ngoài phạm vi một xã nhưng trong phạm vi một huyện, thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi tổ chức;
c) Trường hợp tổ chức hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện vượt ra ngoài phạm vi một huyện, thông báo với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức theo nội dung đã được chấp thuận.
4. Cơ quan nhà nước được cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo thông báo việc quyên góp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc thực hiện theo nội dung kế hoạch đã được chấp thuận; đảm bảo trật tự an toàn và bí mật quốc gia.
5. Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức và cá nhân tôn giáo thực hiện hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện phải bảo đảm tính công khai, minh bạch việc vận động, tiếp nhận, phân phối tiền, hàng đúng, kịp thời cho đối tượng tiếp nhận; không được lợi dụng danh nghĩa cơ sở, tổ chức và cá nhân tôn giáo để quyên góp phục vụ lợi ích cá nhân hoặc những hoạt động trái pháp luật.