Điều 6. Hội nghị của thôn, tổ dân phố
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố triệu tập và chủ trì hội nghị thôn, tổ dân phố.
1. Hội nghị thôn, tổ dân phố được tổ chức sáu tháng một lần (một năm 02 lần), khi cần có thể tổ chức họp bất thường.
2. Thành phần hội nghị là toàn thể cử tri, hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố. Hội nghị được tiến hành khi có trên 50% số cử tri, hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham dự. Trường hợp thôn, tổ dân phố có địa bàn rộng, dân cư sống không tập trung thì có thể tổ chức các cuộc họp theo từng cụm dân cư. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổng hợp kết quả cuộc họp của từng cụm dân cư thành kết quả chung của thôn.
3. Nội dung hội nghị thôn, tổ dân phố:
- Triển khai các văn bản của cấp trên (nếu có).
- Thảo luận, quyết định và thực hiện các công việc tự quản, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và vệ sinh môi trường; xây dựng đời sống mới; giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống; giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục trong cộng đồng dân cư; xây dựng cơ sở hạ tầng thôn, tổ dân phố; xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước của thôn, tổ dân phố.
- Bàn biện pháp thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
4. Các hình thức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 1; Khoản 1 Điều 2; Khoản 1 Điều 3; Khoản 1 Điều 4; Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 5 Chương I của hướng dẫn ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số: 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam.
Các cuộc họp của thôn, tổ dân phố phải được ghi biên bản.