Điều 2. Ban Thanh lý tài sản thành phố có nhiệm vụ:
Dựa vào các đợt kiểm kê định kỳ 0 giờ ngày 1 tháng 1, 0 giờ ngày 1 tháng 7 và kiểm kê đột xuất của thành phố, nắm chắc số lượng, chất lượng và giá trị tài sản của thành phố, phân bố theo ngành Công nghiệp, Nông nghiệp, Thương nghiệp, Xây dựng, v.v…
Xác định số tài sản ứ đọng, chưa dùng, có kiến nghị điều hòa, đưa ra sử dụng. Trên cơ sở nắm tài sản, điều tra năng lực sản xuất của từng ngành, góp phần vào việc xây dựng kế hoạch kinh tế quốc dân của thành phố.
Nắm lại số tài sản, vật tư đã bị hư hỏng, không còn khả năng phục hồi để chỉ đạo công tác thanh lý tài sản.
Nghiên cứu những hồ sơ về nguyên tắc, những báo biểu, biểu mẫu hướng dẫn thanh lý tài sản từ 1971 đến 1975 hiện lưu trữ tại Bộ Tài chính, trước đây do Ban Chỉ đạo điều tra và thanh lý tài sản của Chánh phủ phụ trách, để vận dụng vào thành phố và hướng dẫn kiểm tra các cơ quan, đơn vị quận, huyện thực hiện.
Quan hệ chặt chẽ với các ngành Thương nghiệp, Vật tư, Vật giá và Tài chính trong việc thu hồi phụ tùng, tận dụng sắt, thép và vật tư hàng hóa đã thanh lý.
Tuần kỳ (sáu tháng, năm), tổng hợp tình hình thanh lý, báo cáo Ủy ban Nhân dân thành phố.
Hướng dẫn việc tổ chức chỉ đạo công tác thanh lý tài sản của các ban, ngành trực thuộc và quận, huyện trong thành phố.
Kiểm tra xét duyệt hồ sơ xin thanh lý và xử lý tài sản.
Đôn đốc thanh toán tài sản đã thanh, xử lý nộp vào ngân sách thành phố.
Ban Thanh lý tài sản của thành phố có bộ máy giúp việc với biên chế gồm cán bộ và nhân viên của các cơ quan thành viên trong Ban đóng góp, được sử dụng con dấu riêng, kinh phí hoạt động được Văn phòng Ủy ban Nhân dân thành phố dự trù và cấp phát.