vanban.org

Điều 11. — Quyết định 234/TCTK-QĐ

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 05/06/1993 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Tổng cục Thống kê Ban hành 05/06/1993 Hiệu lực 05/06/1993 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 234/TCTK-QĐ › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11.

1. Người ra quyết định thanh tra phải xem xét những kết luận, kiến nghị của Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên và ra quyết định xử theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý. Đối với những vi phạm nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp tổ chức thanh tra không đồng ý với quyết định của cơ quan điều tra thì có quyền kiến nghị với cơ quan thẩm quyền giải quyết.

2. Thủ trưởng các đơn vị hữu quan và các đối tượng thanh tra phải thực hiện đúng kết luận, kiến nghị, quyết định của Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên theo điều 34 Pháp lệnh Thanh tra, Nghị định 244-HĐBT và có quyền giải trình theo quy định tại Điều 35 của pháp lệnh thanh tra. Nếu các đối tượng thanh tra không thực hiện do cố ý hoặc được thủ trưởng cố tình bao che, phải áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định tại Điều 8 Nghị định 244-HĐBT ngày30/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.

3. Các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra phải ghi rõ nội dung, thời gian, đối tượng thực hiện, phải được công bố công khai với đối tượng thanh tra và cơ quan tổ chức hữu quan. Cơ quan, tổ chức ra quyết định thanh tra và thanh tra Tổng cục Thống kê có trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.

4. Khi nhận được khiếu nại đối với kết luận, kiến nghị, quyết định về thanh tra, cơ quan, tổ chức đã ra quyết định thanh tra có trách nhiệm xem xét lại và trả lời cho đương sự theo quy định tại pháp lệnh khiếu nại và tố cáo của công dân.