Điều 11. Quản lý sự cố do mất an ninh, an toàn thông tin cho hệ thống thông tin
- Đơn vị phải ban hành quy trình cụ thể về việc phát hiện, báo cáo, xử lý và quản lý hoạt động khắc phục các sự cố liên quan đến an toàn thông tin tại đơn vị.
- Đơn vị phải phân công nhân sự quản lý an toàn, an ninh thông tin trên môi trường máy tính và mạng máy tính (bao gồm công tác giám sát theo dõi hoạt động của hệ thống, kiểm tra việc thực hiện quy định này tại đơn vị).
- Quy định rõ trách nhiệm báo cáo của công chức, viên chức, lao động hợp đồng và đối tác về sự cố CNTT.
- Trường hợp khẩn cấp, đơn vị cần lập tức báo cáo tình hình sự cố đến người có thẩm quyền và các bên liên quan để có biện pháp khắc phục trong thời gian sớm nhất.
- Phát hiện kịp thời các hành vi, hiện tượng, sự cố bất thường trên hệ thống để báo cáo các cấp có thẩm quyền và có phương án xử lý phù hợp. Tố giác những hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin cho hệ thống thông tin.
- Quá trình xử lý sự cố phải được ghi chép và lưu trữ tại đơn vị.
- Thu thập, ghi chép, bảo toàn bằng chứng, chứng cứ phục vụ cho việc kiểm tra, xử lý, khắc phục và phòng ngừa sự cố. Đối với những trường hợp sự cố về CNTT có liên quan tới pháp luật, đơn vị có trách nhiệm thu thập và cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền.
- Các hệ thống an ninh mạng (cập nhật bản vá hệ điều hành, phòng diệt mã độc, tường lửa, phát hiện và phòng chống tấn công,...) phải được giám sát thường xuyên để đảm bảo tác dụng của hệ thống, đồng thời phát hiện và xử lý sớm các vấn đề về an toàn thông tin. Thực hiện kết xuất định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý các báo cáo từ hệ thống an ninh mạng để theo dõi, đánh giá các vấn đề của hệ thống.
- Thực hiện quản lý sự cố an ninh, an toàn thông tin: Thiết lập quy trình báo cáo sự cố an ninh, an toàn thông tin cho các cấp quản lý thuộc đơn vị; Phân tích, xác định nguyên nhân của sự cố, biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tái diễn; Tổng hợp thông tin về các sự cố trong báo cáo an ninh, an toàn thông tin định kỳ của đơn vị.