vanban.org

Điều 1. Thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam — Quyết định 230/2005/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/09/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/09/2018 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 31/2018/QĐ-TTg · 03/08/2018
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 21/09/2005 Hiệu lực 10/10/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg Về việc thí điểm cổ phẩn hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam · 230/2005/QĐ-TTg
20/09/201831/2018/QĐ-TTgBãi bỏ Đang xem 10/10/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 230/2005/QĐ-TTg › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

1. Mục đích, yêu cầu và hình thức cổ phần hoá

a) Mục đích cổ phần hoá:

- Tăng cường năng lực quản trị điều hành và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và sử dụng vốn.

- Tăng cường năng lực tài chính bảo đảm an toàn hoạt động và phát triển Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Nâng cao sức cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

- Giữ vững Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng có vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

b) Yêu cầu cổ phần hoá:

- Đa dạng hoá hình thức sở hữu nhằm nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải bảo đảm an toàn, không gây ra biến động lớn trong hoạt động của hệ thống Ngân hàng, bảo đảm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Bảo đảm vai trò chi phối của Nhà nước đối với hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và lợi ích tối đa cho Nhà nước.

- Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường.

- Huy động vốn của mọi tầng lớp dân cư, thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

c) Hình thức cổ phần hoá

Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam theo giá trị được xác định lại, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc sau:

- Nhà nước sở hữu cổ phần chi phối của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Việc bán cổ phần thực hiện qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn Nhà nước giảm dần nhưng không thấp hơn 51% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt mức tối thiểu theo thông lệ quốc tế.

d) Mức vốn điều lệ: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong phương án cổ phần hoá.

đ) Đối tượng và giới hạn mua cổ phần:

- Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

- Mỗi pháp nhân sở hữu không quá 10% vốn điều lệ; mỗi cá nhân sở hữu không quá 5% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Mỗi nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu không quá 10% vốn điều lệ và tổng số cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ không quá 30% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

2. Nội dung cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

a) Xác định giá trị doanh nghiệp và phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức tư vấn quốc tế và quy định hiện hành của pháp luật.

- Thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp là ngày 31 tháng 12 năm 2005.

- Phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

- Xây dựng kế hoạch tăng vốn và tổ chức phát hành.

- Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được phép thuê tư vấn quốc tế thực hiện cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam theo những nội dung trên.

b) Lộ trình bán cổ phần.

- Trong năm 2006, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam bán cổ phần theo nhiều đợt, mỗi đợt không quá 10% vốn điều lệ để tăng vốn nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ Nhà nước sở hữu vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thấp hơn 70%.

- Giai đoạn 2007 - 2010, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục bán cổ phần để tăng vốn điều lệ nhưng phải đảm bảo tỷ lệ Nhà nước sở hữu vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thấp hơn 51%.