vanban.org

Điều 7. Xử lý nợ bị rủi ro — Quyết định 23/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/12/2017 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Yên Bái Ban hành 16/11/2017 Hiệu lực 01/12/2017 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/2017/QĐ-UBND › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Xử lý nợ bị rủi ro

1. Người vay không trả được nợ do nguyên nhân khách quan theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ.

a) Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại NHCSXH.

b) Thẩm quyền xem xét xử lý nợ bị rủi ro: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định (đối với nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh), do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định (đối với nguồn vốn ngân sách cấp huyện).

c) Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được NHCSXH trích lập đối với cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách địa phương.

d) Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, trên cơ sở báo cáo của NHCSXH, cơ quan Tài chính các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội cùng cấp và các đơn vị liên quan báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh (đối với cấp tỉnh) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp huyện (đối với cấp huyện) bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh (hoặc ngân sách cấp huyện) để xử lý, hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn uỷ thác của ngân sách cấp tỉnh (ngân sách cấp huyện) chuyển qua NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện.

đ) Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xoá nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa, được bổ sung vào nguồn vốn uỷ thác để cho vay theo quy định.

2. Những thiệt hại do nguyên nhân chủ quan của người vay, của tổ chức nhận ủy thác hoặc của cán bộ, viên chức NHCSXH gây ra thì các đối tượng này phải bồi hoàn và chịu trách nhiệm trước pháp luật.