vanban.org

Điều 5. Rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi — Quyết định 22/2023/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/09/2025
Hòa Bình Ban hành 04/08/2023 Hiệu lực 16/08/2023 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 22/2023/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi

1. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã

a) Hàng tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, đánh giá việc trẻ em đang cư trú trên địa bàn cần được nhận làm con nuôi đối với các trường hợp: Trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế.

b) Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.

c) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi không có người nhận làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định, kèm theo xác nhận không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi.

2. Trách nhiệm của Cơ sở nuôi dưỡng

a) Đánh giá việc trẻ em sống ở Cơ sở nuôi dưỡng cần được nhận làm con nuôi, chuyển danh sách trẻ em cần được chuyển hình thức chăm sóc thay thế ở Cơ sở nuôi dưỡng đến gia đình nhận trẻ em làm con nuôi theo quy định tại Điều 45 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP .

b) Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì lập hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định, xin ý kiến của cơ quan chủ quản.

3. Trách nhiệm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ do cơ sở nuôi dưỡng gửi, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi.

4. Trách nhiệm của Sở Tư pháp

a) Khi tiếp nhận hồ sơ trẻ em, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trên địa bàn tỉnh đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và đủ điều kiện nhận con nuôi thì Sở Tư pháp có trách nhiệm giới thiệu và giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký nuôi con nuôi theo thẩm quyền.

b) Trường hợp không có người cư trú trên địa bàn tỉnh đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và trẻ không thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì Sở Tư pháp đăng tin tìm người nhận trẻ em làm con nuôi trên phạm vi toàn tỉnh. Việc thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em trên địa bàn tỉnh đăng tải trên Cổng thông tin điện tử tỉnh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Hòa Bình và Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp.

Trong thời gian đăng tin tìm gia đình thay thế cho trẻ em, nếu có người Việt Nam thường trú ở trong nước có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi thì phải đăng ký nhu cầu nhận con nuôi tại Sở Tư pháp. Sở Tư pháp có công văn giới thiệu và giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở cơ sở nuôi dưỡng thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi theo quy định.

c) Trường hợp hết thời hạn 60 ngày, kể từ ngày đăng thông báo (theo quy định điểm c khoản 2 Điều 15 Luật Nuôi con nuôi), nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, thì Sở Tư pháp gửi 01 bộ hồ sơ trẻ theo quy định khoản 1 Điều 32 Luật Nuôi con nuôi cho Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 Luật Nuôi con nuôi.

d) Trường hợp không có người cư trú trên địa bàn tỉnh đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi và trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp xác nhận trẻ em đủ điều kiện được cho làm con nuôi, gửi Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp 01 bộ hồ sơ để tìm người nhận con nuôi có điều kiện phù hợp với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em.

Hồ sơ của trẻ gồm: Các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 32 Luật Nuôi con nuôi; văn bản xác nhận trẻ đủ điều kiện được cho làm con nuôi nước ngoài; văn bản lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ và ý kiến của trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi; văn bản lấy ý kiến của Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng về việc cho trẻ em làm con nuôi (nếu trẻ đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng).

5. Trách nhiệm của Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Hòa Bình

Phối hợp với Sở Tư pháp trong việc đăng tải miễn phí thông tin về việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em trên Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo Hòa Bình, Cổng thông tin điện tử tỉnh.