vanban.org

Điều 4. Một số quy định cụ thể về tách thửa — Quyết định 22/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/05/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/05/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 08/2020/QĐ-UBND · 04/05/2020
Tiền Giang Ban hành 20/11/2018 Hiệu lực 01/12/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND Quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở trên địa bàn tỉnh Tiền Giang · 22/2018/QĐ-UBND
15/05/202008/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 01/12/2018Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 22/2018/QĐ-UBND › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Một số quy định cụ thể về tách thửa

1.   Trường hợp thửa đất nông nghiệp tách ra để hợp với thửa đất nông nghiệp liền kề thì thửa đất nông nghiệp tách ra đó được phép có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định này, nhưng diện tích thửa đất còn lại không được nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định này (trừ trường hợp thửa đất còn lại cũng được hợp với một thửa đất khác).

2.   Trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp có nhu cầu tách một phần diện tích đất để chuyển nhượng cho người khác sử dụng vào mục đích đất ở (đối với thửa đất phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng có mục đích đất ở) thì diện tích thửa đất được tách ra (sau khi trừ hành lang bảo vệ các công trình công cộng) bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất ở và thỏa điều kiện chiều ngang mặt tiền theo quy định tại Quyết định số 20/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất ở trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (gọi tắt là Quyết định số 20/2015/QĐ-UBND), thửa đất nông nghiệp còn lại phải đảm bảo như quy định tại khoản 1 Điều 4 Quyết định này.

Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải thực hiện việc nộp đầy đủ hồ sơ của hai thủ tục (thủ tục nhận chuyển nhượng và thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất) tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai. Sau khi có kết quả giải quyết của thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thông báo, hướng dẫn cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất biết và có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Bộ phận  tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp huyện để thực hiện giải quyết thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất.

Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có trách nhiệm liên hệ  Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai để hoàn thành nghĩa vụ tài chính phí, lệ phí liên quan và liên hệ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp huyện để nhận  Phiếu tiếp nhận hồ  sơ  và trả kết quả.

3.  Trường hợp tách thửa đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để chuyển mục đích sang đất ở (đối với thửa đất phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng có mục đích đất ở) thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa được tính theo quy định diện tích tối thiểu của đất ở, cụ thể:

a)   Đối với tách thửa đất nông nghiệp thì diện tích, điều kiện chiều ngang mặt tiền, thửa đất nông nghiệp còn lại, quy trình thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Quyết định này.

b)  Đối với tách thửa đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thì diện tích, điều kiện chiều ngang mặt tiền, quy trình thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Quyết định này.

4.   Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu nhận chuyển nhượng nhiều thửa đất nông nghiệp có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu để hợp thành thửa đất có diện tích, điều kiện chiều ngang mặt tiền đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định này thì thực hiện cùng lúc thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thủ tục hợp thửa đất.

5.    Các trường hợp đặc biệt chưa được nêu trong Quyết định này, nếu trong quá trình thực hiện các địa phương gặp vướng mắc thì báo cáo về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền.