Điều 7. Xử lý, cấp Giấy chứng nhận trong các trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở nằm xen kẽ trong khu dân cư có nguồn gốc do hành vi lấn, chiếm đất không phải đất ở để xây dựng nhà ở trái phép nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sử dụng ổn định không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch tại Điều 4 Quy định này thì được cấp Giấy chứng nhận và thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 120/2010/NĐ-CP), cụ thể:
a) Thu tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới quy định tại Điều 4, Điều 5 Quyết định số 315/2006/QĐ-UBND ngày 16 tháng 2 năm 2006 của UBND tỉnh Phú Yên (sau đây gọi là Quyết định số 315/2006/QĐ-UBND).
b) Thu tiền sử dụng đất bằng 100% theo giá đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở quy định tại Điều 4, Điều 5 Quyết định số 315/2006/QĐ-UBND.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở được Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) giao không đúng thẩm quyền nhưng có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 9 Quy định này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đất ở, thì được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích được giao và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Các trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm tại Điều 6 Quy định này và không phù hợp với quy hoạch tại Điều 4 Quy định này tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì không được cấp Giấy chứng nhận mà phải chấp hành giải phóng mặt bằng khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.