Điều 10. Cộng đồng dân cư sử dụng tiền, vật tư, lâm sản và các lợi ích khác từ rừng
1. Nguyên tắc:
a) Việc sử dụng, phân phối các lợi ích từ rừng phải thực hiện theo quy ước quản lý rừng của cộng đồng dân cư và phải được các hộ gia đình trong cộng đồng dân cư tham gia;
b) Việc phân phối các lợi ích phải bảo đảm bình đẳng, thống nhất giữa các hộ gia đình, có ưu tiên đối với hộ gia đình thuộc diện chính sách, hộ nghèo;
c) Quyền hưởng lợi và việc phân phối các lợi ích từ rừng phải được công bố công khai, rõ ràng đến tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng dân cư.
2. Vật tư, tiền mà Nhà nước, chương trình, dự án về lâm nghiệp hỗ trợ cho cộng đồng dân cư và lâm sản được phép khai thác trên rừng của cộng đồng dân cư được quản lý, sử dụng như sau:
a) Đối với vật tư (cây giống, phân bón...): sử dụng toàn bộ số vật tư vào việc trồng rừng, chăm sóc rừng của cộng đồng dân cư;
b) Đối với tiền và lương thực (nếu có): được chia cho các hộ gia đình theo nguyên tắc hộ gia đình nào đóng góp nhiều công thì được hưởng nhiều, hộ gia đình nào đóng góp ít công thì được hưởng ít;
c) Đối với lâm sản: gỗ và lâm sản ngoài gỗ được sử dụng vào mục đích thương mại, sử dụng vào các công trình chung của cộng đồng dân cư hoặc chia cho các thành viên trong thôn, buôn do cộng đồng dân cư quyết định;
d) Các sản phẩm khác như sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; tiền thu được từ dịch vụ du lịch,...sau khi trừ các chi phí phần còn lại nộp vào quỹ của cộng đồng dân cư.
3. Các quy định nêu tại khoản 2 điều này được thống nhất trong hội nghị của cộng đồng dân cư và phải ghi vào trong Quy ước hoặc Phương án phân chia lợi ích từ rừng của cộng đồng dân cư.