vanban.org

Điều 11. Phối hợp xử lý vi phạm trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp — Quyết định 21/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/04/2016 Thay thế: 16/2016/QĐ-UBND · 22/03/2016
Long An Ban hành 01/07/2013 Hiệu lực 11/07/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 26/2026/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh sau đăng ký thành lập trên địa bàn tỉnh Tây Ninh · 26/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND Ban hành quy định phối hợp trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập trên địa bàn tỉnh Long An · 16/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 21/2013/QĐ-UBND Ban hành quy chế phối hợp quản lý đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Long An · 21/2013/QĐ-UBND
11/07/2013Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 21/2013/QĐ-UBND › Chương 2 › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Phối hợp xử lý vi phạm trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 59, Điều 61 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, và theo các quy định sau đây:

1. Cung cấp thông tin vi phạm: Trong quá trình quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp có hành vi vi phạm, Ủy ban nhân dân cấp huyện, các sở, ngành, cơ quan điều tra, có trách nhiệm đình chỉ ngay hoạt động vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu doanh nghiệp vi phạm các quy định tại khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005 về thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xử lý vi phạm hoạt động của doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh để thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi ra quyết định xử lý vi phạm.

2. Kiểm tra, xác minh thông tin vi phạm của doanh nghiệp: Khi nhận được thông tin do các tổ chức, cá nhân phản ánh về hành vi vi phạm của doanh nghiệp, nếu xét thấy cần thiết phải tiến hành xác minh, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ trực tiếp kiểm tra, hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh thông tin về vi phạm của doanh nghiệp. Kết quả kiểm tra, xác minh phải được thể hiện bằng văn bản.

3. Thông báo hành vi vi phạm: Khi có đủ căn cứ xác định doanh nghiệp vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005, cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành công bố hành vi vi phạm của doanh nghiệp theo quy định tại điều 60 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP. Thông báo này được gửi đến địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp và Đăng thông báo trên trang thông tin điện tử (website) của Sở Kế hoạch và Đầu tư.

4. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính và mức xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp.