Điều 5. Hạn mức công nhận đất ở có vườn, ao theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở có vườn, ao hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), người sử dụng đất có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 3 Quy định số 168 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích, ranh giới đất ở (ranh giới thổ cư) thì công nhận đất ở theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình tại thời điểm xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau.
1. Đối với hộ gia đình đang sử dụng đất ở có vườn, ao tại các phường thuộc thành phố Yên Bái và thị xã Nghĩa Lộ thì mỗi nhân khẩu được công nhận diện tích bằng 80m2.
2. Đối với hộ gia đình đang sử dụng đất ở có vườn, ao tại các xã, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh thì mỗi nhân khẩu được công nhận diện tích bằng 100m2.
3. Hạn mức diện tích đất của một nhân khẩu quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này gồm diện tích đang có nhà ở và diện tích đất vườn, ao trong cùng một thửa đất (trong một khuôn viên) có nhà ở của một chủ sử dụng đất thuộc khu dân cư.
4. Trường hợp hộ gia đình có ít nhân khẩu thì được công nhận đất ở tối thiểu bằng hạn mức giao đất ở mới cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở của khu vực liền kề theo quy định tại các Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Quy định này.
5. Trường hợp diện tích thửa đất ở có vườn, ao lớn hơn tổng diện tích tính theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình thì chỉ được công nhân đất ở theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình.
6. Trường hợp diện tích thửa đất ở có vườn, ao nhở hơn tổng diện tích tính theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình theo khoản 1 Điều này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất hộ gia đình đang sử dụng.